Toâi tin Hoäi Thaùnh

DUY NHAÁT – THAÙNH THIEÄN

COÂNG GIAÙO – TOÂNG TRUYEÀN

BẢN TIN GIÁO HỘI

SỐ 68 (Năm II) (TUẦN TỪ 15.01 ĐẾN 22.01.2008)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trong số nầy.

 

1.     TIN TỨC HỘI THÁNH CÔNG-GIÁO

 

2.     GIỚI THIỆU

       TÀI LIỆU GIÁO HỘI

            HỘI THÁNH NÓI VỀ AN TỬ         

      T̀M HIỂU KINH THÁNH.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                         

             KHUYNH-HƯỚNG KITÔ-GIÁO « HỨNG KHỞI    

   và SẢNG KHÓAI »TRONG CỘNG-DOÀN CÔRINTÔ                                                                                                                               

                                                                            VẤN ĐỀ HÔM NAY

                                                                                  1. GIAO LƯ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO :

                                                                                      NHỮNG TIÊU CHÍ CĂN BẢN ĐỨC TIN

                                                                                  2. QUAN ĐIỂM SIÊU H̀NH CỦA DARWIN

                                                                                                                                                                                                                                                                                            

PHỤ LỤC :

GỢI Ư SUY NIỆM TIN MỪNG CHÚA NHẬT II TN. A

    

  PHỤ TRANG:         

VIỆT-NAM 7 NGÀY QUA

 

TIN TỨC HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

 

HĂY HIỆP NHẤT THẾ GIỚI ĐỂ CHỐNG LẠI NẠO PHÁ THAI

(AsiaNews 09.01) Nhân danh HĐGM Hàn Quốc, thư kư quốc gia “Phong Trào Sự Sống 31” viết cho hăng tin AsiaNews nhằm ủng hộ một lệnh hoăn toàn cầu chống lại nạo phá thai. Lời mời gọi là để trân trọn sự sống dưới mọi h́nh thức và ngay từ giây phút đầu, sự thu thai. Sau đây là toàn văn lời mời gọi:

   Chúng tôi hoan nghênh việc LHQ thông qua lnh hoăn án tử, được thông qua vào ngày 17.12.2007 và chúng tôi cho rằng sẽ là một kết luận lô-gic khi mở rộng nó thành một lệnh hoăn về nạo phá thai. Thực tế, sự sống con người bắt đầu từ ngay chính thời khắc thụ thai. V́ vậy không nỗ lực cụ thề để tôn trọng sự sống con người và bảo vệ nó, th́ bất cứ cố gắng nào nhằm xây dựng một văn hoá v́ sự sống và bất cứ phng trào bảo vệ sự cống con người nào cũng chỉ là trống rỗng (kể cả việc thông qua lệnh hoăn án tử).

   Để cho một ví dụ trực tiếp, con số những tội phạm nghiêm trọng bị hành quyết hằng ngày chỉ là một tỷ lệ nhỏ bé so với hàng ngàn sự sống con người vô tội bị giết chết một cách lặng lẽ bằng nạo phá thai mỗi ngày trên thế giới. V́ thế tôi hoàn toàn ủng hộ việc tung ra một phong trào trên khắp thế giới nhằm tới một lệnh hoăn nạo phá thai, bao gồm cả việc sử dụng tê bào gốc phôi trong nghiên cứu, thụ thai nhân tạo và huỷ diệt những bào thai dị dạng v́ những phôi thai và thai nhi nầy cũng là những sinh linh hoàn hảo và qúy giá được làm theo h́nh ảnh của Thiên Chúa.

   Văn kiện Hướng Tới Văn Hoá Sự Sống do HĐGM Hàn Quốc công bố ngày 15.03.2007tái khẳng định lập trường của giáo Hội Công giáo tại Hàn Quốc chống lại nạo phá thai và mọi nghiên cứu tế bào gốc phôi bất luận v́ lư do ǵ. Chúng tôi, các Kitô-hữu, tất cả được mời gọithực hiện lệnh hoăn vi65c nạo phá thai trong cuộc sống thường nhật của chúng tôi, ở đây và lúc nầy. Một văn hoá sự sống đich thựcphải được xâynên từ tôi, từ bạn. Đề làm được điều đó, chúng tôi,các Kitô-hữu, phải dấn thân để tạo dựng một văm hoá v́ sự sống đích thực bằng việc tôn trọng và qúy trọng mọi sự sống con ngườidưới bất cứ h́nh thức nào. Những phôi thai và bào thai là những sinh linh vô tội, không có khả năng chống đỡ,không có tiếng nói và dễ bị tổn thương

TÍN HỮU CÔNG GIÁO NÊN QÙY GỐI VÀ HÁ MIỆNG KHI RƯỚC LỄ

(CNS 09.01) Đức giám mục Phụ Tá giáo phận Karaganda,Kazakhstan, Athanasius Schneider, viết trong nhật báo Osservatore Romano của Vatican : Sự úy kính của các tín hữu Công-Giáo thật ḷng tin tưởng họ đang đón rước Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể nên dẫn họ tới việc qùy gối và rước Ḿnh Thánh Chúa trên lưỡi. Trích dẫn Thư thứ I gửi Côrintô, Ngài nói:” Nếu một người ngoài Kitô-giáo đến và quan sát thấy một cử chỉ tôn thờ như thế, có lẽ người đó cũng sẽ ‘qùy xuống và thờ lạy Thiên Chúa và tuyên xưng Thiên Chúa thật sự đang ở giữa anh em’”. Trong một bài viết đề ngày 8.01 có tựa đề một “lưu ư lịch sử phụng vụ”, Đức Cha Schneider rà soát lại những bản văn của các nhà thần học thời Giáo Hội sơ khai về việc rước Thánh Thể và nói rằng thực hành của giáo dân khi rước lễ bằng lưỡi là tục lệ nỗi trội hơn hẳng vào thế kỷ thứ sáu.

THI HÀI CỦA PADRE PIO ĐƯỢC KHAI QUẬT, CHIÊM NGƯỠNG

(CWNews 08.01) Thi hài của Thánh Padre Pio (được in năm dấu tánh, 1887 - 1968) sẽ được khai quât và trưng bày cho công chúng chiêm ngưỡng trong năm tới nầy. Kế hoạch khai quật vị Thánh đáng mến nầy đă gặp phải sự chống đối quyết liệt từ các người thân c̣n sống của Vị Thánh, v́ họ tô giác kế hoạch nầy là “kém văn minh”. Đức TGM Domenico D’Ambrosio nói rằng thi hài của Padre Pio sẽ sẵn sàng cho công chúng sùng mộ vào năm 2008,nhân 40 năm kỷ niệm ngày mất của Thánh Nhân và cho biết kế hoạch của Ngài đă được Thánh Bộ Phong Thánh chuẩn y. Mỗi năm có gần 1 triệu khách hành hương đến viếng mộ Vị Thánh. Padre Pio được Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II tôn phong hiển thánh năm 2002 với 2 triệu người tham dự nghi lễ ở Vatican

ĐỀN THỜ VATICAN THU HÚT B̀NH QUÂN 15.000 NGƯỜI MỖI NGÀY

(CWNews 08.01) Theo lời Đức hồng y Angelo Cornastri, phụ trách: Khoảng từ 15.000 đên 20.000 người viếng Đền Thờ Thánh Phêrô mỗi ngày. Những cuộc viếng thăm Đền Thờ Vatican tăng rơ rệt trong các năm vừa qua và du khách có thể thấy những hàng người dài chờ đợi phía bên ngoài cửa ra vào và cả chen chúc nhau quanh Quăng Trường Thánh Phêrô – trong các mùa du lịch cao điểm vào tháng năm và tháng mười. Vấn đề an ninh cũng được thắt chặt hơn.

THẾ GIỚI CẦU NGUYỆN CHO CÁC LINH MỤC DÍNH LÍU TỚI LẠM DỤNG T̀NH DỤC

(UCAN 08.01) Nhằm đáp lại những tai tiếng lam dụng t́nh dục mà các linh mục dính líu vào đă làm rung chuyển Giáo Hội Công giáo trong những năm vừa qua, Thánh Bộ Giáo Sĩ đă đề nghị tất cả các giám mục cổ vũ một nỗ lực đặc biệt CẦU NGUYỆN VÀ TÔN THỜ THÁNH THỂ liên tục. Trong văn kiện dài 40 trang Thờ Lạy - Sửa chữa – T́nh mẫu tử thiêng liêng đối với các linh mục,mục đích đề ra là để sữ chữa sai lầm nặng nề do “một tỷ lệ nhỏ các linh mục “đă phạm, “để thừa nhận phẩm giá của các nạn nhân” mà họ lạm dụng và thúc đẩy sự thánh hoá của tất cả các linh mục và ơn gọi linh mục.

SỰ HỢP NHẤT BẢY HỘI D̉NG NỮ TU ĐA-MINH ĐƯỢC VATICAN PHÊ CHUẨN

(CNS 08.01) Đó là tin tức do Tổng Hội Ḍng Đa-Minh ở Columbus đưa ra. Ngày chính thức cho việc thành lập hội ḍng mới, chưa được đặt tên, là vào Lễ Phục Sinh năm 2009. Nơi đặt trụ sở của Hội Ḍng mới và những ban phụ trách khác cũng chưa được quyết định. Các hội ḍng hợp nhất gồm có: Nữ Tu Đa Minh; Thánh Maria ở Springs,Colummbus; Nữ Tu Thánh Đa-Minh Trái Tim Vô Nhiễm Đức Maria ở Akron; Tu Viện Thánh Nữ Rosa Lima ở Oxford,Michigan; Nữ Tu Đa Minh, Tu Viện Đức Maria và Nữ tu Thừa sai Thánh Thể Thánh Đa-Minh, cả hai đều ở New Orleans; Nữ Tu Đa Minh ở Great Bend, Kansas và Tu Viện Thánh Catarina Siêna. Bảy tu viện hiện có 730 nữ tu và khoảng 500 nam nữ hội viên cộng tác với các nữ tu trong việc truyền giáo tại 36 bang và ở Puerto Rico,Pháp,Honduras,Peru và Nigeria.

SẮP CÓ TÔNG THƯ MỚI VỀ XĂ HỘI?

(CWNews 09.01) Theo tin suy đoán trên tờ nhật báo Ư Il Messagero: Tông thư thứ ba của Đức Thánh Cha Biển-Đức XVI dành cho Giáo huấn Công giáo về xă hỗi có thể ra mắt vào ngày 19 tháng 3 năm nay. Vatican không xác nhận rằng Đức giáo hoàng đang soạn thảo một tông thư mới - mặc dầu có nhiều tin tức cho biết Đức Giáo Tông đang viết một văn kiện về tín lư xă hội của Giáo Hội. Trong một bài phân tich dài về bài giảng của Đức Than1h Cha tại lễ Hiển Linh, tờ Il Messaggero làm nỗi bật những chú giải của Đức Giáo Hoàng Biển-Đức về các vấn đề kinh tế và xă hội trên thế giới và tuyên bố của Người rằng toàn cầu hoá không loại trừ được những xung đột và bất b́nh đẳng giữa các quốc gia. Tờ nhất báo Ư gợi ư rằng những nhận định nầy có thể phản ảnh các tư duy của Đức giáo hoàng trong một văn kiện sắp ra.

VATICAN KHUYẾN KHÍCH CẨN TRỌNG HƠN TRONG VIỆC MỞ ÁN PHONG THÁNH

(CNS 09.01) Một giới chức hàng đầu Vatican, Đức hồng y Jose Sariva Martins, phụ trách Thánh Bộ Phong Thánh, cho biết: Vatican đang chuẩn bị đưa ra một tập hợp các chỉ thị nhằm cổ vũ “cẩn trọng hơn và chính xác hơn” trong việc mở các án phong thánh mới do các giáo phận địa phương. Ngài cho biêt các chỉ thị cần thiết để phản ảnh “tinh thần mới do Đưc Thánh Cha Biển-Đức XVI giới thiệu trong các thủ tục phong chân phước”. Dưới tựa đề “Trong các tiến tŕnh phong thánh cấp giáo phận sẽ yêu cầu sự chính xác nhiều hơn” trong một cuộc phỏng vấn dành cho Osservatore Romano số ra ngày 08.01, Đức hồng y đă nói tài liệu mới sẽ gửi cho tất cả các giám mục đương nhiệm, hướng dẫn các Vị về các thủ tục liên quan đến việc mở và tiến hành các án phong thánh. Văn kiện sẽ nhấn mạnh việc làm sao “thần học của Giáo Hội địa phương” được thể hiện trong những án phong thánh như thế.

 

VIỆC TÔN PHONG CHÂN PHƯỚC CHO ĐỨC HỒNG Y NEWMAN ĐĂ CẬN KỀ.

 (CAN 09.01) Đức hồng y Jose Saraiva Martins, Tổng TrưởngThánh Bộ Phong Thánh, đă loan báo rằng việc tôn phong chân phước cho học giả trở lại người Anh, Đức hồng y John Henry Newman, đă cận kề. Trong một cuộc phỏng vấn của tờ Osservatore Romano ra ngày 09.01, Đức hồng y Saraiva nói rằng trong các nhân vật quan trọng nhất sắp được phong chân phước có trường hợp của Đức hồng y Newman, một trí thức lớn và một khuôn mặt điển h́nh trở lại từ Anh giáo sang Công giáo. “Với tư cách cá nhân, tôi ươc ao việc tôn phong chân phươc cho Ngài hết sức sớm xảy đến, v́ điều đó sẽ rất quan trọng trong lúc nầy đối với con đường đối thoại hiệp nhất”. Đức hồng y cũng tiết lộ việc phong chân phước vào cuối năm nay cho song thân Thánh Nữ Têrêxa HĐGS, ông Louis Martin và bà Azelia Guérin. Các nhân đức anh hùng của họ đă được công bố ngày 26.03.1944 và phép lạ nhờ lời bầu cử của các Ngài cũng đă được phê chuẩn.

HỘI ĐỒNG GIÁO SĨ DO-THÁI-GIÁO TUYÊN B61 CHỐNG LẠI NẠO PHÁ THAI

(Fides 09.01) Hội Đồng Giáo Sĩ Đạo Do Thái tại Israel đă bày tỏ lần nữa quan điểm về nạo phá thai, để tái xác nhận rằng việc thực hành nầy là một “tội nặng”. Các giáo sĩ nói :” Theo Halakha, đa số các vụ nạo phá thai đều không cần thiết và bị cấm, v́ chúng được thực hiện trong khi t́nh trạng mang thai không đe doạ nguy hiểm nào cho thai phụ”.

NĂM SỨC KHOẺ : TĂNG THÊM Ư THỨC VỀ CÁC ĐIỀU KIỆN Y TẾ KHÓ KHĂN

(Fides 09.01) Năm mới 2008 khởi đầu và đây là thời gian cho những giải pháp tốt. Đối với LHQ cũng chọn năm 2008  làm năm chính thức cho các sáng kiến hành động tương tự. Đặc biệt năm vừa mới bắt đầu nầy sẽ là năm quốc tế không chỉ về y tế (sức khoẻ), mà c̣n là của hành tinh Trái Đất và các ngôn ngữ. Trong các mục tiêu của năm ư tế nầy, mục tiêu tăng thêm ư thức về các điều kiện khó khăn mà 41% dân chúng trên thế giới đang phải chịu, v́ không được tiếp cận với các dịch vụ y tế căn bản.

TÔN PHONG HIỂN THÁNH CHO PHỤ NỮ NGƯỜI ECUADOR NĂM 2008

(CAN 10.01) Tổng Trưởng Thánh Bộ Phong Thánh, Đức hồng y Jose Saraiva Martins đă thống báo rằng trong những án phong thánh đầu tiên được công bố năm nầy sẽ có Đấng đáng kính Narcisa de Jesus, một nữ giáo dân qua đời năm 1869 và sẽ trở thành vị thánh người Ecuador thứ ba. Theo lời Đức hồng y, th́ hiện có hơn 2.200 hồ sơ đang được Thánh Bộ xem xét. Bốn hồ sơ đầu tiên được kết luận là : Geatano Errico của Napoli, Ư,ssáng lập một ḍng tu; Berandra Butler, một nữ người Thụy Sĩ sáng lập một ḍng tu; Alfonsa de la Immaculata, một nữ tu người Ấn Độ bang Kerala và Narcisa de Jesus Martillo.

YÊU CẦU ĐƯC GIÁO HOÀNG GIẢI THÍCH VỀ GIA Đ̀NH

(CNA 10.01)  Một cuộc tranh luận sôi nỗi diễn ra ở Tây Ban Nha về ư nghĩa của Gia Đ́nh. Theo sau cuộc diễu hành Bảo Vệ Sự Sống khổng lồ ngày 30.12 ở Madrid, thư kư đảng xă hội chủ nghĩa Jose Blanco đă làm tăng nhiệt độ của cuộc tranh luận với việc yêu cầu Đức Giáo Hoàng Biển-Đức XVI giải thích cho ông ta “chính xác thế nào là một gia đ́nh Kitô-giáo” và với việc đề nghị “một số thành viên” Giáo Hội Công-giáo “đọc lại Tin Mừng”. Ông nói với Kênh TV 3 :”Với tư cách là một Kitô-hữu, tôi mong Đức Giáo Hoàng giải thích cho tôi chính xác gia đ́nh Kitô-giao là thế nào; có lẽ qua gia đ́nh truyền thống Ngài muốn hiểu rằng phụ nữ th́ ở nhà và làm công việc nội trợ”

THƯỢNG PHỤ CHÍNH THỐNG VIẾNG THĂM ĐỨC GIÁO HOÀNG VÀO THÁNG BA

(CWNews 10.01) Hăng tin AsiaNews tiết lộ: Đức Thượng Phụ Chính Thống Bartôlômêô I ở Constantinople sẽ hội kiến Đức Thánh Cha Biển-Đức XVI tại Vatican vào tháng ba. Vị Thương Phụ Đại Kết nầy sẽ hội kiến Đức Thánh Cha trong một cuộc viếng thăm Roma vào ngày 06.03, nhân dịp mừng kỷ niệm 90 năm Giáo Hoàng Học Viện Phương Đông. Chuính Ngài đă theo học ở đây và lấy tiến sĩ Giáo Luật cách đây 40 năm.

MA QỦY VẪN ĐANG HOẠT ĐỘNG

(CWNews 10.01) Cha Gabriele Amorth, vị linh mục trừ tà của giáo phận Roma, đă nhắc nhở các tín hữu rằng Xa-tan có thật là đang hoạt động trong trần gian. Trong một phỏng vấn với tờ tạp chí tin Đức Der Spiegel, Cha Amorth nói rằng thật là bất cẩn khi thờ ơ với những tác động của ma qủy. Xa-tan đang hoạt động, ngay cả trong các địa danh nỗi tiếng như là các linh địa Công-giáo, như Fatima và Lộ Đức. Ảnh hưởng của ma qủy c̣n có thể vươn tới cả Vatican. Cha Amorth, người đă thực hiện khoảng 70.000 vụ trừ tà và là người sáng lập Hiệp Hội Quốc tế Những Người Trừ Tà, nói đùa rằng những lời của Ngài về Xa-tan tại Vatican không có ư ám chỉ Tổng Hội lần thứ 35 của Ḍng tên. Vào tháng 12, vị linh mục trừ tà đă làm dấy lên tranh căi khi nói trong một cuộc phỏng vấn khác, với trang điện tử Petrus, rằng Đức Giáo Hoàng sẽ sớm bắt đầu một đợt phát động mới nhằm chiến đấu chống lại ảnh hưởng của ma qủy. Các giới chức Vatican đă bác bỏ những tuyên bố ấy.

ĐÀI LOAN ĐỀ NGHỊ VATICAN GIÚP CHẤM DỨT SỰ CÔ LẬP NGOẠI GIAO

(CWNews 10.01) Tổng thống Đài Loan Trần Thủy Biển đă t́m kiếm sự ủng hộ của Vatican trong một nỗ lực gia nhập LHQ. Ông đă viết thư gửi Toà Thánh, lập luận rằng  thất bại của LHQ trong việc kết nạp Đài Loan như một quốc gia thành viên là “một vi phạm các chuẩn mực đạo đức quốc tế như Đức giáo hoàng cũng đồng ư”. Văn pḥng tổng thống phủ chỉ rơ rằng tổng thống hy vọng kết hợp sự ủng hộ của Toà Thánh và các đồng minh tiềm năng khác trong một nỗ lực thoát ra khỏi sự cô lập ngoại giao áp đặt lên Đài Loan do áp lực từ lục địa Trung Quốc.Trong khi hiều quốc gia hượng bộ trước áp lực từ Bắc Kinh và rút lại việc công nhận Đài Loan, th́ Toà Thánh vẫn suy tŕ sự hiện diện ngoại giao ở đó. Năm 1949, khi khâm sứ Toà Thánh bị ép buộc rời Bắc kinh sau khi cộng sản nắm quyền, vị đại diện Vatican ban đầu đặt trụ sở ở Nam-Kinh,sau đó là ở Hong Kong và cuối cùng là ở Đài Bắc, tại đó Cộng Hoà Trung Hoa được thành lập dưới Tưởng Giới Thạch như là một chính phủ Trung Hoa lưu vong. Chính phủ Đài Loan không khẳng định đại diện quyền lănh đạo lục địa nữa và vị đại diện cho Đức giáo hoàng ở Đài Loan chỉ được coi như là một đại biện lâm thời,hơn là một đại sứ. Mặt khác, người đại diện của Đài Loan ở Vatican lại được coi là một đại sứ - một t́nh huống phản ảnh bản chất không ổn định của các quan hệ Vatican với Đài Loan. Tháng 10.2005, Đức hồng y Angelo Sodano bấy giờ là quốc vụ khanh Toà Thánh, thông báo rằng Toà Thánh chuẩn bị cắt quan hệ ngoaị giao với Đài Loan để tái lập bang giao với Bắc Kinh. Ngài nói:” nếu được,chúng tôi hy vọng quay về lại vị trí khâm sứ nguyên thủy ở Bắc Kinh”.

GIÁO HỘI Ư SẼ KHÔNG CHỐNG LẠI VIỆC RẢI TRO

(CNS 10.01) Theo tờ nhật báo Công-giáo Avvenire: Mặc dù Giáo Hội Công giáo chuộng việc người chết được chôn cất trong ḷng đất hơn, nhưng việc hoả tang có thể chấp nhận được và trong một số trưường hợp, Giáo Hội ở Ư sẽ không phản đối việc tro một người được rải. Các giám mục Ư đă phổ biến bản dịch mới về các nghi thức an táng va tháng 11, lần đầu tiên thêm vào những lời cầu nguyện đọc khi hoả táng và khi một lễ tang được cử hành với sự hiện diện của tro chứ không phải thi thể người chết. Các văn bản,theo tờ Avvenire cho biết, tương đối xa lạ cho tới khi một tờ báo đưa tin rằng một linh mục ở miền Bắc nước Ư đă từ chối một lễ tang Công giáo đối với một người đă cầu xin tro của ông được rải trên núi.  Giáo phận Aosta sau đó đă phổ biến một văn kiện nói rằng mặc dù vị linh mục đă do dự, cuối cùng cũng đă có lễ an táng Công giáo và “Lễ an táng Giáo Hội sẽ được cử hành cho tất cả mọi tín hữu, gồm cả những ai đă chọn cách rải tro, bao lâu sự chọn lựa không được thực hiện v́ những lư do nghịch với đức tin Kitô-giáo”.

ĐỨC THÁNH CHA GỬI ĐIỆN ỦNG HỘ NHỮNG NGƯỜI IRAQ BỊ BAO VÂY

(CAN 11.01) Ngay khi nghe tin về những vụ đánh bom vừa mới đây chống lại các Kitô-hữu ở Iraq, Đức Thánh Cha Biển-Đức đă gửi một bức điện tín cho Thượng Phụ Công-giáo Emmanuel III Delly bày tỏ sự quan ngại sâu xa và sự gần gũi tinh thần của Người đối với tất cả những ai bi tấn công. Bức điện tín do Đức hồng y Quốc Vụ Khanh Tarcisio Berone kư, truyền đạt Đức Thánh Cha bảo đảm sẽ cầu nguyện để các Kitô-hữu luôn có hy vọng và dược củng cố. Thông điệp cũng kêu gọi những kẻ khủng bố từ bỏ con đường bạo lực, nhất là khi những vụ tấn công như thế cũng là chống lại toàn tể dân chúng Iraq.

THỦ TƯỜNG MỜI ĐỨC GIÁO HOÀNG THĂM IRAQ

(CAN 11.01) Khâm sứ Toà Thánh tại Iraq, Đức TGM Francis Atxidi Chllikat đă hội kiến với thủ tướng Iraq Nuri el Malaki. Ông nầy đă đưa ra lời mời Đức Giáo Hoàng công du đất nước nầy. Theo các phương tiện truyền thông Công-giáo ở Đức, lời mời được đưa ra nhân dịp cuộc viếng thăm của Đức Khâm Sứ Toà Thánh với thủ tướng tiếp theo sau những vụ tấn công bảy nhà thờ và tu viện ở BaghdadMosul. Các tin tức cho biết :” bầu khí cảm nhận được ở Iraq ngay lúc nầy rất căng thẳng và đầy bạo lực.Theo thống kê của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) cho đến tháng 6.2006 có 151.000 người dân bị chết trong các cuộc xung đột ở Iraq. Hiện nay các Kitô-hữu lo sợ một chiến dịch “làm sạch tôn giáo” mới, nhằm đuổi Kitô-hữu ra khỏi Iraq sau hai tháng tương đối yên tĩnh.

GIÁO SƯ ĐẠI HỌC PRINCETON ĐƯỢC BỔ NHIỆM VÀO VIỆN HÀN LÂM GIÁO HOÀNG KHOA HỌC

(CAN 11.01) Giáo sư khoa ứng dụng môi trường Đại học Princeton Ignacio Roodriguez-Oturbe, đă được Đức Thánh Cha bổ nhiệm là thành viên thông thường của Viện Hàn Lâm Khoa Học Giáo Hoàng. Viện nầy gồm các nhà khoa học khắp trên thế giới đă có những đóng góp ư nghĩa cho khoa học. Tân viện sĩ là một người gốc Venezuela và làm việc tại Princeton từ 1999. Đức Thánh Cha sẽ chính thức bỗ nhiệm Ông vào tháng 10.2008.

THUYẾT TƯƠNG ĐỐI ĐẠO ĐỨC Ở MỨC ĐỘ BÁO ĐỘNG ĐỎ

(CWNews 11.01) Đức Thánh Cha gióng lên báo động về một “t́nh trạng khẩn cấp về mặt giáo dục” trong cuộc hội kiến ngày 10.01 với các nhà lănh đạo chính trị đến từ Roma và Người nhắm vào quận Lazio [Đây là cuộc gặp truyền thống hằng năm, để chúc nhau năm mới]. T́nh trạng khẩn cấp mà Đức Thánh Cha ám chỉ là sự tăng trưởng của thuyết tương đối. Sự lơ là trong việc hướng dẫn đạo đức đe doạ chính nền tảng của sự chung sống và tương lai của xă hội”. Nhằm tái lập một ư thức về trật tự luân lư để giới trẻ có thể kiến tạo đời sống của họ trên đó, - Đức Than1h Cha nói – “Rơ ràng là sự tôn trọng và ủng hộ gia đ́nh dựa trên hôn nhân có tầm quan trọng hàng đầu”. “Những tấn công không hề giảm và đầy đe doạ vào đời sống gia đ́nh đang huỷ hoại đơn vị căn bản nhất của cuộc sống xă hội lành mạnh và quan quan chức chính phủ phải phản ứng lại bằng việc ủng hộ gia đ́nh một cách thuyết phục và cụ thể, với xác tín rằng chỉ với cách đó họ mới hoạt động v́ công ích.

ĐẠI HỌC AQUINAS HỦY BỎ BÀI DIỄN THUYẾT CỦA CHA PHAN (Đ̀NH CHO)

(STLToday 11.01) Sau khi đă hỏi ư kiến Đức TM Raymond Burke giáo phận St. Louis, Viện Thần Học Aquinas đă hủy bỏ Thuyết Tŕnh thường niên của viện cho năm 2008. Cha Peter Phan,giáo sự dại học Georgetown và cựu chủ tịch Hội Thần Học Mỹ đă dự trù sẽ đọc một diễn văn thanh thế trong ba tuần nữa (xin xem bài viết về Cha Phan trong cac số trước). Trả lời câu hỏi của tờ Post-Dispatch, Đức TGM Burke nói trong một tuyên bố thàng trước rằng sau khi đọc văn kiện từ Uỷ Ban Tín Lư HĐGM Hoa Kỳ, cuốn sách của Cha Phan “tŕnh bày những giáo lư của Đức tin Công giáo trong một cách thế gây lầm lạc và lẫn lộn” và kết luận rằng “Cha Phan không phải là một thầy dạy đức tin Công giáo đáng tin cậy”. Trong tuyên bố của Ngài, Đức TM Burke nói Ngài quan ngại v́ Cha Phan đă không đáp ứng yêu cầu của các giám mục Hoa Kỳ để làm sáng tỏ về cuốn sách của Cha.

CÁC GIÁM MỤC TỪ CHÂU ÂU VÀ HOA KỲ VIẾNG THÁNH ĐỊA ĐỂ ỦNG HỘ HOÀ B̀NH

(CAN 12.01) Cha Pierre Grech, tổng thư kư HĐGM La-tinh ở khu vực Ả Rập cho biết một nhóm các giám mục từ các HĐGM Châu Âu và Hoa Kỳ sẽ đi viếng Th1nh Địa từ ngày 12 đến 16.01 để ủng hộ tiến tŕnh hoà b́nh trong khu vực,nơi Kitô-hữu là thiểu số. Phái đoàn sẽ gặp gỡ các giám mục Thánh Địa vào ngày 12.01(v́ các Vị nầy sẽ đi ad limina vào ngày 24) và hội kiến với Đức TGM Antonio Franco, Đại diện Toà Thánh ở Giêrusalem và Palestine, để thảo luận về hiệp ước giữa Israel và Toà Thánh. Ngày 13.01, phái đoàn sẽ đi viếng Bet-lem, Nablus, Rafidia,Jenin và Zababdeh và có khả năng hội kiến với thủ tướng Palestine Slam Fayed ở Ramallah và với thủ tướng Israel Ehud Olmert tại Giêrusalem vào ngày 14.[ Hiện con số Kitô-hữu tại Thánh Địa chỉ có 170.000,tức là 1,5% dân số. 99% Kitô-hữu là người gốc Ả Rập – Palestine và đa số là Chinh Thống Hy Lạp]

ĐẦU TƯ CHO ĐỜI SỐNG GIA Đ̀NH LÀNH MẠNH LÀ ĐÁNH CƯỢC TỐT NHẤT CHO HOÀ B̀NH

(CNA 12.01) Giữa cuộc tranh luận ở Tây Ban Nha về cuộc diễu hành bảo vệ sự sống mới đây ở Madrid, Đức TGM giáo phận Valencia, Đức hồng y Agustin Garcia-Garco, nói :”Một xă hội không có các gia đ́nh hoặc với những gia đ́nh lộn xộn và suy yếu, là một xă hội liên tục phơi ḿnh cho bạo lực” và v́ thế “đầu tư cho cuộc sống gia đ́nh lành mạnh là đánh cược tốt nhất cho một nền hoà b́nh ởn định và lâu dài”. Trong thư hằng tuần của Ngài, Đức hồng y nhấn mạn rằng một nền văn hoá hoà b́nh có nền tảng từ giáo dục về gia đ́nh, nơi mà Thiên Chúa giữa một vai tṛ quyết định. Ngài tiếp tục lưu ư rằng gia đ́nh là chủ chốt trong việc giáo dục con người trong phẩm giá và sự hài hoà đích thực của họ với tha nhân “bởi v́ trước hết, đó là “chỗ hàng đầu để nhân bản hoá con người”, “v́ con người được kêu gọi để phát triển một tiểu sử duy nhất và không thể thay thế được […] Không có sự đấm ấm t́nh yêu gia đ́nh, th́ sự chung sống của con người bị lừa gạt về niềm hy vọng  mật thiết nhất của mọi con người: yêu và được yêu”. Gia đ́nh là nôi của sự sống và t́nh yêu. Không có chỗ trong thế giới của chúng ta cho bạo lực gia đ́nh, nạo phá thai, khủng bố,chiến tranh hoặc bóc lột.

THÊM MỘT ẢO TƯỞNG TÉ BÀO GỐC

(CWNews 12.01) Một hăng ở Massachusetts,Công Nghệ Cao Tế Bào (ACT) khẳng định một cuộc bứt phá trong nghiên cứu tế bào gốc. Công ty nầy khẳng định rằng họ có thể lấy đi các tế bào gốc phôi mà không là hại đến chính các phôi thai. Thoạt nh́n, câu chuyện – đă thu hút được sự chú ư – nghe thật tuyệt vời. Nhưng trong thanh tra gần đây, cuộc “bứt phá” trở thành một “ảo tưởng”: một quàng cáo thành công hơn chỉ nhằm thu hút sự chú ư do một công ty đă làm việc đó [chỉ nhằm thu hut1 sự chú ư] trong quá khứ.

MỘT KHI ĐỒNG TÍNH DỤC ĐƯỢC BỎ QUA, TH̀ ẤU DÂM SẼ ĐƯỢC HỢP PHÁP HÓA

(Interfax 11.01) Người đứng đầu Vụ Quan Hệ ngoài Giáo Hội của Toà thượng phụ Mạc-Tư-Khoa, Đức TGM Kirill, cho rằng nếu xă hội ngưng coi đồng tính dục là một tội lỗi, th́ bước tiếp theo sẽ là bào chữa cho những trụy lạc t́nh dục đa dạng khác. Ngài nhận định (phỏng vấn của tạp chí Đức Spiegel ngày 10.01): “Luân lư hoặc là tuyệt đối hoặc là không hiện hữu. Nếu các bạn bào chữa cho đồng tính dục, tại sao lại không bào chữa cho ấu dâm?”. Trả lời phóng viên rằng có “một khác biệt lớn giữa đồng tính dục và ấu dâm, v́ ấu dâm vi phạm ‘tự do cá nhân’bằng việc cưỡng hiếp trẻ em, Đức TGM Kirill nói rằng sẽ được giải thích trong nhiều năm rằng “các cháu gái 12 tuổi trước đây được coi là trẻ em, nhưng nay các cháu phát triển nhanh hơn nhiều […] Hai mươi năm trước không ai có thể tưởng tượng nước Đức sẽ hợp pháp hoá đồng tính dục. Nay th́ khác hẳn. Đó là vấn đề nguyên tắc.Có một bản thể đạo đức”. Ngài nhắc nhở rằng kinh Thánh gọi đồng tính dục là một “tội”, tuy nhiên Ngài nhấn mạnh Giáo Hội không lên án những người đồng tính luyến ái và chống lại việc “bách hại hoặc lăng nhục những người nầy”.

LINH MỤC NGƯỜI Ư TỪ CHỐI KHÔNG CHO VỊ TGM BỊ VẠ TUYỆT THÔNG ĐƯỢC RƯỚC LỄ

(CNS 12.01) Khởi đầu chuyến viếng thăm nước Ư, cựu TGM bị vạ tuyệt thông Emmanuel Milingo đă bị từ chối không cho rước lễ khi Ngài tham dự thánh lễ tại một nhà thờ giáo xứ gần Naples. Ông và bà vợ Maria Sung tham dự thánh lễ một ngày sau khi từ Hàn quốc đến Ư. Khi vị cựu TGM đến gần Vị chủ tế - Cha Francesco Soprano – Cha từ chối không cho vị cựu TGM rước lễ. Năm nay 77 tuổi,kết hôn trong một nghi lễ Giáo Hội Hợp Nhất vào năm [ do mục sư Moon và ông cũng nhận tài trợ của vị mục sự  nầy], ông bị Vatican ra vạ tuyệt thông vào năm 2006 do truyền chức bất hợp lệ cho những người đă lập gia đ́nh. Ông dự tính đến Ư để cổ vũ việc giáo sĩ được lập gia đ́nh.

GẦN 20% ĐỐI TƯỢNG NẠO HÚT THAI LÀ TRẺ VỊ THÀNH NIÊN

(TuoiTre 12.10) Trong số 150 trẻ ở độ tuổi vị thành niên đến nạo hút thai tại Bệnh viện Hùng Vương từ ngày 2-5 đến 1-6-2007, có đến 17% trẻ cho rằng nạo hút thai là b́nh thường. Đó là con số thống kê trong nghiên cứu của cử nhân y khoa Lương Mỹ Loan, được đưa ra tại hội nghị khoa học công nghệ tuổi trẻ lần 20 vừa tổ chức tại ĐH Y dược TP.HCM. Phần lớn đối tượng đến nạo hút thai là công nhân, học sinh sinh viên có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, chủ yếu ở trọ... Nghiên cứu này cho biết VN là nước đứng hàng thứ ba thế giới về tỉ lệ nạo hút thai với 1,5 triệu ca mỗi năm, trong đó 20% đối tượng c̣n ở độ tuổi vị thành niên.

 

 

 

HỘI THÁNH NÓI VỀ AN TỬ

 

1. GIAO HUẤN CĂN BẢN CỦA HỘI THÁNH CÔNG-GIÁO.

Một tuyên bố về An Tử năm 1980 của Thánh Bố Tín Lư Đức Tin.

2. TẤT CẢ MỌI SỰ SỐNG CON NGƯỜI ĐỀU BẤT KHẢ XÂM PHẠM

Các trích đoạn Tông Thư Evangelium vitae của Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô II,công bố năm 1985

3. KÍNH TRỌNG NGƯỜI CẬN KỀ CÁI CHẾT

Một văn kiện của các giám mục Pháp năm 1991 về sự tôn trọng con người đang đối diện với cái chết

4. KITÔ-HỮU VÀ NGHỆ THUẬT CHẾT

Điều chính yếu của một suy tư giáo lư cho người lớn của các giám mục Đức

5. AN TỬ VÀ TRANH LUẬN CÔNG KHAI

Toàn bộ các bài nói chuyện của các giám mục Canada,Pháp,Bỉ về hợp pháp hoà an-tử   năm 1994

6. ĐỐI DIỆN VỚI GIỜ CHẾT

Nét chính yếu mục vụ năm 2001 của các giám mục bang Illinois về sự kết thúc đời sống.

 

 

I.                    GIAO HUẤN CĂN BẢN CỦA HỘI THÁNH CÔNG-GIÁO

 

Tuyên bố về An Tử của Thánh Bố Tín Lư Đức Tin.

Dẫn nhập

Ngày 05.05.1980, Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin, sau rất nhiều bàn bạc và thăm ḍ ư kiến các chuyên gia, đă công bố Tuyên Ngôn về An Tử (jura et bona). Văn kiện nầy nhắc lại tính cách linh thiêng của sự sống, hồng ân Chúa ban tặng, mà con người không bao giờ được lấy làm của riêng cho ḿnh. Bởi v́ văn bản nầy được trích dẫn rất nhiều trong các tài liệu của Giáo Hội sau đó về An Tử, cho nên chỉ xin tóm tắt và đưa ra cái nh́n về văn bản.

Tóm tắt.

  Với những tiến bộ của y khoa, vấn đề An Tử được đặt ra một cách sắc sảo hơn. Con người cảm thấy bất lực trước những đau đớn mà thỉnh thoảng con ngươi buộc phải chịu đựng. An Tử lúc ấy hiện đến với nó như phương tiện để làm chấm dứt những đau khổ được coi là không thể chịu đựng nỗi nầy. An Tử - hành vi được đặt ra (hoặc bị bỏ qua) trong ư định ban cho cái chết để loại bỏ đau đớn – th́ không tương thích với đức tin Kitô-giáo, bởi v́ nó nghịch lại với sự sống. Trong những t́nh huống khó khăn, Hội Thánh đề nghị một sự trợ giúp và đồng hành các cơn đau đầy yêu  thương. Hội Thánh ủng hộ việc sử dụng thuốc giảm đau để giúp người bệnh bớt đau, cho dù trong một số trường hợp điều ấy khiến cho cái chết đến mau hơn. Hội Thánh c̣n nhấn mạnh đến tầm quan trọng phải phân biệt rơ một cách điều trị, nhất là khi đặc biệt vất vả, có tương xứng với những lợi ích mà nó có thể mang lại cho người bệnh hay không. Mọi quyết định trong lănh vực nầy phải được đưa ra trong sự tôn trọng phẩm giá con người lớn nhất.

Viễn cảnh.

   Ngay từ cuối thế kỷ 19,Hội Thánh đă chống lại những phong trào đầu tiên vận động An Tử “tự nguyện”. Nhưng trong thập niên 1970, các phong trào nầy mở rộng, nhất là trong các nước giàu, những nước hưởng nhiều nhất các tiến bộ y khoa và công nghệ. Để giúp các giám mục và các tín hữu đối phó tốt hơn với t́nh h́nh mới nầy, Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin đă xác định nghĩa của từ “An Tử” và đề xuất một suy tư về “việc sử dụng cân xứng các phương tiện chữa trị”.

 

II.                  TẤT CẢ MỌI SỰ SỐNG CON NGƯỜI ĐỀU BẤT KHẢ XÂM PHẠM

 

Các trích đoạn Tông Thư Evangelium vitae của Đức giáo hoành Gioan-Phaolô II

Dẫn nhập

 Tháng ba năm 1995, Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô II đă công bố tông thư Evangelium Vitae. Như thế Người đă trả lời cho các hồng y, những vị mà qua một cuộc bỏ phiếu nhất trí trong một hội nghị hồng y ngoại lệ vào thán 4.1991, đă đề nghị với Người “tái khẳng định với quyền bính của Đấng Kế Vị Thánh Phêrô, giá trị của sự sống con người và tính chất bất khả xâm phạm của nó, có tính đến những hoàn cảnh hiện tại và những mối đe doạ thủ tiêu nó ngày nay” (EV 5). Chúng ta chỉ đưa ra những trích đoạn của văn bản nầy nói chuyên biệt về vấn

đề an tử.

 

Tóm tắt.

  Ngày nay, ngay khi có một đau đớn khôn thể chịu đừng nỗi, th́ một số người lại đ̣i quyền được chết, quên đi rằng sự sống là một quà tặng của Thiên Chúa. Họ quyết định t́m đến An Tử hoặc là “tự tử có trợ giúp”, hành vi mà chúng ta không được lẫn lộn với sự từ bỏ việc chạy chữa tận t́nh. Trong các trung tâm chăm sóc giảm đau, những người hấp hối được theo sát giúp đỡ cho đến khi chết trong phẩm giá và yêu mến. Các thầy thuốc có thể dùng những thuộc giảm đau trong cuộc chiến chống cơn đau trong mức độ các thuốc giảm đau nầy nhắm xoa dịu chứ không làm mau chết hơn. Chiếm hữu cho ḿnh quyền làm cho một ai đó chết, đó chính là liều lĩnh làm mất cân bằng những xă hội của chúng ta chẳng đoái hoài công lư: kẻ mạnh định đoạt sự sống của kẻ yếu. Tận đáy ḷng ḿnh, con người bất kể đang ở t́nh trạng nào, cũng chờ đợi nơi người khác một sự nâng đỡ để tiếp tục hy vọng, với việc dựa trên lời hứa phục sinh mà Chúa Giêsu để lại cho chúng ta.

Viễn cảnh.

  Trong tông thư của Người, Đức Thánh Cha thường trích dẫn tuyên ngôn Iura et Bona, để nhấn mạnh trên hết về việc phải phân biệt khi địng nghĩa thế nào là An Tử. Ngôn ngữ Người dùng cũng cho thấy thẩm quyền đặc biệt của giáo huấn về vấn đề nầy : « Tôi xác nhận rằng an tử là một vi phạm nghiêm trọng Luật Lệ Thiên Chúa.. Giáo lư nầy được đặt nền tảng trên luật tự nhiên và trên Lời được viết ra của Thiên Chúa ; Lời ấy được Truyền Thống Giáo Hỗi truyền lại và được Huấn Quyền giảng dạy ».

 

III.             KÍNH TRỌNG NGƯỜI CẬN KỀ CÁI CHẾT

 

Dẫn nhập

Ngày 23.09.1991, Hội Đồng Thường Trực HĐGM Pháp đă công bố một tuyên ngôn có tựa đề « Tôn trọng người cận kề cái chết ». Văn bản nầy kết án mọi h́nh thưc an-tử, nhấn mạnh tầm quan trọng của phong trào điều trị giảm đau và khẳng định lần nữa lập trường của Giáo Hội về việc kê toa những thuốc giảm đau để làm dịu đau đớn.

Tóm tắt.     

  Việc loại bỏ mọi đau đơn là không thể được. Trong những trường hợp rất đau đớn, phải đặc biệt chú trọng đến người bệnh và hết sức sáng tạo trong việc t́m những phương thế để làm dịu đau đớn cho người bệnh. Trong một số t́nh huống, sẽ thích đáng nếu cho bệnh nhân ch́m vào giâc ngủ nhân tạo,nhưng,trong lănh vực nầy, phải chứng tỏ được một sự nhận thức lớn lao. Đối diện với những người mắc mmột bệnh nan y hoặc những người cao tuổi (trở nên rất phụ thuộc hoặc bị giảm trí nhớ), Giáo Hội nhấn mạnh sự quan trọng phải biết lắng nghe người bị đau đớn thường giải thoát người bệnh khỏi ước ao chết. Đôi khi gây nên cái chết xem ra có vẻ như là mộ hành vi xót thương. Nhưng sự thương xót thật sự hệ tại t́m kiếm nơi người kia nhân tính của người đó, cho dù là bị biến dạng. Nhượng bộ một sự xót thương giả dối dẫn tới sát nhân. Giáo Hội – và không chỉ có Giáo Hội – xác tín rằng sự việc hợp pháp hoá an tử có nguy cơ hủy hoại nền tảng trật tự pháp lư của chúng ta.

Viễn cảnh.

Tuyên bố nầy được công khai hoá trong khuôn khổ cuộc tranh luận khơi dậy bởi đề nghị giải quyết « về sự trợ giúp người hấp hối » đượ6c tŕnh lên Nghị Viện Châu Âu tháng 4.1991, do Ủy Ban Mội Trường, về sức khoẻ cộng đồng và bảo vệ người tiêu dùng.

 

IV. KITÔ-HỮU VÀ « NGHỆ THUẬT CHẾT »


Cốt lơi suy tư của các giám mục Đức về nghê thuật chết tbeo Kitô-giáo

Dẫn nhập

  Trong cuốn Giáo Lư cho người lớn của các Vị, các giám mục Đức đề cập đến vấn đề an tử..Các Ngài đặt nó vào khuôn khổ một suy tư về giới răn thứ năm và chính xác hơn là dưới đề mục “chăm sóc người bệnh và người hấp hối”.

Tóm tắt

Cái chêt của chúng ta phải hiểu rơ dưới ánh sáng đức tin của chúng ta vào Thiên Chúa và vào Chúa Kitô, Đấng đă chết và sống lại. Tiến bộ của y học đem lại việc chữa lành là tốt, nhưng khi người ta cứ gắn bó vào việc đẩy lùi kết cục sự sống bằng mọi phương thế, th́ điều đó đặt lại vấn đề chính ư nghĩa của cái chết. Phải phân biệt an tử thụ động và an tử chủ động: trong trường hợp thứ nhất, người ta để cái chết tự nhiên đến, không nỗ lực chữa trị; ở trường hợp thứ hai, người ta làm cho chết sớm hơn. Giúp đỡ những người cao niên và những bệnh nhân ở giai đọan cuối chết, chính là giúp họ chấp nhận sự hữu hạn của họ. Sự chấp nhận nầy có thể mang nhiều h́nh thức. Hợp pháp hoá an tử có nguy cơ thay đổi mục đích của hoạt động y khoa vốn nhằm duy tŕ bảo tồn chứ không phải là loại bỏ sự sống. Người Kitô-hữu phải tiếp tục làm chứng về niềm hy vọng của họ vào t́nh yêu Thiên Chúa, với việc tận tâm bên cạnh các bệnh nân và những người hấp hối.

 

V. AN TỬ VÀ TRANH LUẬN CÔNG KHAI

Các giám mục Canada,Pháp.Bỉ can thiệp vào tranh luận công cộng về an-tử

Dẫn nhập

Ngày 26.10.1994, những phát ngôn nhân của HĐGM Công giáo Canada đă tŕnh bày quan điểm của các Ngài với Ủy Ban Thượng Viện Canada về vần đề trợ giúp tự sát và an tử, do Đức GM Bertrand Blanchet, ủy viên thường trực HĐGM Canada, Đức GM Marcel Gervais, Ủy Viên Ủy Ban Các Vấn Đề Xă Hội và Cha Ron Mercier, chuyên gia về đạo đức căn bản và đạo đức xă hội.

Tóm tắt

Đức Cha Gervais đưa ra những định nghĩa chính xác về an tử chủ động và thụ động, về tự sát và về sự trợ giúp tự sát. Đức Cha Blanchet giải thích rằng sự sống là một ân sủng được giao phó cho con người và con người, đến lượt ḿnh, trở thành người ban phát. Cha Mercier cho thấy rằng ước ao mà con người có để kiểm soát và chọn lựa thời khắc chết, đặt lại vấn đề sư tự do của cá nhân và những nền tảng của xă hội chúng ta. Đưc Cha Gervais đă phát biểu lần thứ hai để giải thích rằng  đau đớn là tự bản chất của sự sống và rằng con người phải tái khám phá chiều kích xă hội của đau khổ, từ đó biết rơ sự quan trọng của những cách điều trị giảm đau. Đức Cha Blanchet bật lên lại về sự kiện cái chêt không phải là một chuyện cá nhân, mà là có liên quan đến tất cả moi người. Ngài đưa ra một danh sách các hậu quả đối với xă hội và nhất là đôi với những người nghèo nhất, về sự buông lơng luật phap đối với an tử và tự sát có trợ giúp.

Viễn cảnh

Trước khi lên tiếng can thiệp nầy, HĐGM Canada đă chuyển tới Uỷ Ban Thượng Viện Canada một báo cáo tựa đề “Sự Sống và Sự Chết trong một cộng đồng trắn ẩn”. Các phát ngộn nhân của HĐGM Canada lấy lại những ư tưởng chính của.báo cáo để tŕnh bày suy nghĩ của Giáo Hội về những khía cạnh đạo đức,triết lư và mục vụ của vấn đề nầy.

 

VI. ĐỐI DIỆN VỚI GIỜ PHÚT CUỐI ĐỜI

 

Nét chinh của thư mục vụ các Giam Mục Bang Illinois về ngày chết.

Dẫn nhập

Ngày 29.05.2001, các giám mục Hoa Kỳ bang Illinois đă phổ biến một thư mục vụ mang tựa đề « Đối Diện với giờ chết ». Các Mục tử của 3.800.000 tín hữu Công giáo Bang Illinois gửi đến hết thảy những ai bị bệnh nặng, cho gia đ́nh họ và cho nhữg ê-kíp chăm sóc chữa trị, để giúp họ suy tư về nhữn chọn lựa khó khăn mà t́nh huống nấy du họ vào.

Tóm tắt

Đức tin cho phép nh́n thấy được phía bên kia biên giới sự chết, nhưng cái chết nầy đối với Kitô-hữu, vẫn cứ là một cái ǵ đó đáng sợ. Phải chuẩn bị cho cái chết. Sự chuẩn bị tốt nhất, người Kitô-hữu biết thế, là một cuộc đời được sống dưới ánh sáng của Chúa kitô. Đức tin và đức Cậy, tuy thế, không ngăn cản được người Kitô-hữu lo nghĩ về cách thức mà ḿnh sẽ chết. Như mọi người, người Kitô-hữu sợ đau đớn thể xác, sợ sự đau đớn vô ích và sợ sự mất tự chủ có thể đẩy một số người tới chỗ chọn lựa tự sát có trợ giúp hoặc an tử. (Các Giám mục đề cập đến ba vấn đề liên kết với sự sợ hăi nầy : vai tṛ của những săn sóc y tế vào cuối đời ; sự hiểu biết được quân b́nh về ư nghĩa của đau đớn ; khó khăn đặt ra từ việc mất tự chủ).

Viễn cảnh

Một vài thống kê giúp hiểu được tầm quan trọng các thư mục vụ của các Giám Mục Hoa Kỳ trên các vấn đề liên quan đến sức khoẻ :

-          Bệnh viện Công giáo : 596 (số người đươc chữa trị mỗi năm : 78.996.656)

-          Nhà hưu dưỡng : 1454 (số người được chăm sóc : 590.981)

 

Đàng sau AN TỬ là vấn đề thách thức Tín Lư và Đức Tin của Hội Thánh Công-giáo, khi những kẻ chủ trương và ủng hộ An-Tử nêu lên quyền tự do con người được định đoạt sự sống và kết cục đời ḿnh và đưa ra những lập luận về tính nhân đạo khi trợ giúp một người « an tử » để thoát khỏi dày ṿ của đau đơn thể chât hoặc tinh thần, nhât là khi bênh đang ở giai đoạn cuối.  Những lư luận đề ra thoạt nghe rât hợp t́nh hợp lư, v́ thế, đă là cái bẩy khiến không it tín hữu Công giáo nhiệt thành tin theo và ủng hộ. Chống lại sai lầm, đưa ra những yếu tố thần học, tín lư, đạo đức, là bổn phận của những tín hữu bênh vực Giáo Hội và chống lại « văn hoá sự chết » đang hoành hành trên thế giới, qua nhiều h́nh thức khác ngoài An-Tử.ngừa tránh thai ; nạo phá thai, nhân bản vô tính phôi ngời ; nghiên cứu tế bào gốc phôi,... V́ vậy, qua nhiều bài viết và suy tư của những thẩm quyền trong Giáo Hội, BTGH đă và sẽ c̣n giới thiệu để khẳng định lập trường của Giáo Hội Công giáo. Kính mong đón đọc và giúp phổ biến trộng răi.  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THIÊN CHÚA LÀ ĐẤNG DUY NHẤT LÀM CHỦ SỰ SỐNG : KHÔNG AI NGOÀI THIÊN CHÚA CÓ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT VỀ SỰ SỐNG, KỂ CẢ TÍNH MẠNG CỦA BẢN THÂN. TỘI ÁC GIẾT NGƯỜI CHỈ LÀ HẬU QUẢ CỦA VIỆC TIẾM QUYỀN SỰ SỐNG CỦA THIÊN CHÚA.

 

 

 

 

T̀M HIỂU KINH THÁNH . T̀M HIỂU KINH THÁNH .T̀M HIỂU KINH THÁNH

 

ĐỀ TÀI 47

 

KHUYNH-HƯỚNG KITÔ-GIÁO « HỨNG KHỞI và SẢNG KHÓAI »

TRONG CỘNG-DOÀN CÔRINTÔ

 Khi phân tích nội dung thư thứ I gửi giáo đoàn Côrintô người ta nhận ra tính cách phức tạp và đa diện của các vấn đề cũng như các bộc lộ gây kinh ngạc trong cuộc sống của cộng đoàn này. Và câu hỏi đầu tiên được đặt ra ở đây đó là làm thế nào để t́m ra ch́a khóa thống nhất giúp giải thích tất cả mọi hiện tượng này trong cộng đoàn Côrintô? Có cái luận lư nội tại nào liên kết các viễn tượng, các cảm nghĩ, kinh nghiệm và các vấn nạn đến sững sờ ấy của tín hữu cộng đoàn Côrintô hay không? Hay nói cách khác, chúng ta có thể gọi kiểu sống ḷng tin kitô của tín hữu giáo đoàn này như thế nào?

 

Xem ra có thể khẳng định rằng ḷng tin của tín hữu Côrintô là thứ ḷng tin đầy ”hứng khởi và sảng khoái”, tập trung vào Chúa Kitô vinh hiển. Dĩ nhiên, tín hữu đón nhận và tin vào sứ điệp của Chúa Kitô tử nạn và phục sinh, nhưng sự phục sinh là yếu tố được ưa thích và nêu bật. Sự phục sinh ở đây được hiểu như là biến cố Chúa Kitô bước vào trong thế giới thiên linh, đạt các sức mạnh của sự tự do và cuộc sống nơi thiên giới. Chúa Kitô phục sinh không chỉ tự giải thoát một lần cho tất cả, khỏi tính cách trần thế và lịch sử của cuộc sống dương gian, mà c̣n trở thành nhân vật thần thiêng có khả năng giải phóng tất cả những ai kết hiệp với Người nữa. Như thế có thể nói nền kitô học của sự vinh quang ngự trị trong cộng đoàn Côrintô thời đó. Đức Kitô phục sinh là nhân vật mới mẻ, oai nghiêm và vinh thắng. Người khác với Đức Kitô lịch sử, Đấng đă chết tất tưởi trên thập gía và sống kinh nghiệm của sự bất lực hoàn toàn, của thất bại ê chề nhục nhă nhất. Nhưng đối với Chúa Kitô cũng như đối với tín hữu, biến cố chịu đóng đanh đă rơi vào qúa khứ và không thể đảo ngược được nữa. Hiện tại giờ đây chỉ c̣n được ghi dấu bằng vinh quang rạng ngời của Chúa phục sinh, bằng quyền năng và sự tự do thiên linh của Ngài. Ánh b́nh minh của ngày phục sinh chiếu tỏa một lần cho tất cả, trên thế giới của cuộc sống kitô, và đẩy bóng tối của ngày thứ sáu tử nạn lùi về biên giới của kư ức thời gian dĩ văng. Tóm lại, tín hữu cộng đoàn Côrintô tách biệt Chúa Kitô phục sinh khải hoàn khỏi Chúa Kitô lịch sử, để chỉ c̣n gắn chặt cái nh́n vào Chúa Kitô phục sinh và họ coi Đức Kitô lịch sử là vô nghĩa.

 Dĩ nhiên, phải công nhận rằng thư thứ I gửi giáo đoàn Côrintô không minh chứng ḷng tin kitô học trên đây một cách rơ ràng, nhưng nó tiềm ẩn trong toàn bức thư và có một tầm hưởng định đoạt đối với nội dung của thư. Bằng chứng là thánh Phaolô đă nhắc đi nhắc lại với tín hữu cộng đoàn lời ngài rao giảng liên quan tới thập giá. Và thánh nhân đă nêu bật cái chết của Chúa Kitô như một tín điều ṇng cốt của ḷng tin kitô (1,13.17-25; 2,2.8; 5,7; 8,11; 11,23-26; 15,3-5).

 

Nền Kitô học của sự quang vinh ấy trong cuộc sống của tín hữu kéo theo nền nhân chủng học của sự vinh quang. Trong bí tích Rửa Tội và bí tích Thánh Thể tín hữu kết hiệp với Chúa Kitô phuc sinh và chia sẻ cuộc sống thiên linh của Người. Họ được vinh quang của Chúa Kitô phục sinh xâm nhập, nhuần thấm vinh quang của Người và trở thành các công dân của thế giới thiên linh. Các ơn Chúa Thánh Thần ban, nhất là các đặc sủng lạ lùng nhất, là các dấu chỉ không thể nhầm lẫn được của t́nh trạng được ”thiên linh hóa” đó. Người nói được các tiếng lạ, từ nay, nói thứ ngôn ngữ của trời cao và của các thiên thần. Nghĩa là họ không c̣n thuộc về thế giới này nữa. Thế rồi, sự hiểu biết các mầu nhiệm của Thiên Chúa và của con người, do Chúa linh ứng, khiến họ ư thức rằng họ thuộc thế giới của những người được cứu độ, của những người toàn thiện. Người ”hiểu biết” hay người ”khôn ngoan” là người cao vượt, đă hiện thực được cái tôi nội tại và thiêng liêng của ḿnh. Cùng với Chúa Kitô họ đă được ngự trị trên trời (4,8.10). Chính bối cảnh này giải thích lư do tại sao tín hữu Côrintô lại rơi vào các lệch lạc của chủ thuyết duy bí tích, chủ thuyết đặc sủng và chủ thuyết thiên quang luận trong cuộc sống ḷng tin.

 

Thật vậy, Kitô hữu Côrintô cho rằng một khi đă được kết hiệp với Chúa Kitô vinh hiển phục sinh và tham dự vào thế giới thiên linh của Người, họ được giải thoát khỏi thế giới này và khỏi các thực tại vật chất tha hóa của nó. Dĩ nhiên, cho tới khi chết, vẫn c̣n có một sợi dây ràng buộc họ với thế giới này, nhưng nó không ảnh hưởng ǵ trên cái tôi nội tại thiêng liêng của họ nữa. V́ cái tôi ấy đă được giải thoát khỏi bản chất xác thân và hiện đang sống trong các cơi trời bên trên. Bản chất xác thân tuy vẫn c̣n đó, nhưng không c̣n sức mạnh ǵ nữa và không có khả năng làm nguy hại tới linh hồn có ư thức và làm chủ được chính ḿnh. Từ đó tín hữu Côrintô cảm thấy được tự do hành động trong cuộc sống. V́ vậy nên mới có một số người tuyên bố: ”Tất cả đều được phép đối với tôi” (6,12) ”Được làm mọi sự” (10,23). Người khác nữa lại nói rằng: ”Tốt hơn cho nam giới là đừng có đụng tới phụ nữ” (7,1). Thế rồi họ cũng cảm thấy được tự do đối với các thói quen tôn giáo phát xuất từ lịch sử con người. Đối với các người đang được sống trong t́nh trạng thiên linh, th́ cắt b́ hay không cắt b́ trên thân xác đâu c̣n có ư nghĩa ǵ nữa? V́ thế việc cấm ăn thịt cúng cho các thần linh hay thịt dâng cúng trong các lễ nghi ngoại giáo cũng không c̣n gía trị ǵ đối với họ. Cũng chính sự tự do này khiến cho các tín hữu hủy bỏ các bất b́nh đẳng trong xă hội và óc kỳ thị phân biệt kẻ nô lệ với người tự do, nam với nữ, bởi v́ chúng vô nghĩa. Đối với các tín hữu không sống trong thế giới này nữa, mọi hàng rào ngăn cách của trần gian này, mọi ranh giới phân chia tách biệt của lịch sử nhân loại không c̣n lư do để tồn tại nữa. Có thể tín hữu Côrintô đă biết và giải thích trong chiều hướng tuyệt đối, điều thánh Phaolô khẳng định với tín hữu Galata trong chương 3,28: ” Không c̣n người hy lạp cũng không c̣n người do thái, không c̣n nô lệ cũng không c̣n người tự do, không c̣n nam cũng không c̣n nữ” (3,28).

 Qủa thế, Kitô giáo của cộng đoàn Côrintô diễn tả sự thoát ly triệt để khỏi lịch sử và khỏi điều kiện sống trên trần gian này, v́ tín hữu cho rằng họ đang được sống trong cơi phúc của quê trời rồi, nơi họ được kết hiệp với Chúa Kitô vinh hiển. Kitô hữu cộng đoàn Côrintô tin rằng họ là những người đă đạt đích, v́ được giải thoát khỏi các hạn hẹp và các điều kiện sống của lịch sử trần gian này rồi. Họ tin là đă chiếm hữu được ”Eskhaton” là thực tại tối hậu và vĩnh viễn, và ”téleion” là thực tại toàn vẹn trong kinh nghiệm bí tích và đặc sủng. Do đó không c̣n có ǵ mới mẻ nữa để mà chờ đợi cả. Mọi sự đă hoàn tất. Họ đă chiếm hữu được ơn cứu độ an b́nh rồi. Cộng đoàn kitô không c̣n phải là đoàn dân lữ hành, đang mệt nhọc tiến bước về miền đất hứa nữa, mà đă là Giêrusalem thiên quốc hạnh phúc rồi. Kitô hữu Côrintô hầu như không biết tới niềm hy vọng như là việc kiên tŕ chờ mong một sự giải thoát tương lai, không bị hạn chế ngay giữa ḷng cuộc sống lịch sử khó khăn này. Họ cho rằng cuộc sống của họ đă tới bến và đạt ơn cứu độ toàn vẹn. Như thế, c̣n có ǵ nữa để mà chờ đợi? Cũng chẳng phải sợ hăi ǵ nữa cả. Sẽ không có chước cám dỗ nào c̣n có thể đụng chạm tới họ. Họ được vững trí yên ḷng vĩnh viễn. V́ quan niệm và lư luận như thế nên cuộc sống của kitô hữu cộng đoàn Côrintô mang sắc thái kiêu căng ngạo mạn. Họ trở thành các thẩm phán xét đoán mọi sự, mọi người và không nhận chịu xự phán xử của người khác (2,15), bởi v́ họ cho ḿnh là ”những kẻ mạnh”. Họ tách biệt khỏi các người khác, nghĩa là khỏi các kitô hữu ”yếu đuối” hơn họ, và nhất là khỏi các người không kitô. Họ c̣n tự khoe khoang trước mặt Chúa, làm như thể tất cả những ǵ họ có là do sức lực, tài khéo và sự khôn ngoan của họ, chứ không phải là ơn thánh Chúa ban (4,7). Sự hiểu biết sâu rộng là lư do khiến họ dương dương tự đắc, tâm ḷng tràn đầy chính ḿnh (8,1). Sự kiện là môn sinh của người này người kia trong các vị truyền giáo cũng khiến cho họ lên mặt hănh diện với kẻ khác và kéo bè kết cánh chỉ trích, chống đối nhau (4,6).

 Hậu qủa đương nhiên cuối cùng của các quan niệm, lư luận, tâm t́nh và thái độ sống lệch lạc đó là cái trống rỗng thực tại bên trong của Giáo Hội. Giáo Hội chỉ là nơi các cá nhân có thể sống kinh nghiệm ”thiêng liêng”, nghĩa là rơi vào tŕnh trạng xuất thần trong các đặc sủng, tham dự vào các sức mạnh thiên linh trong bí tích, và bước vào trong các mầu nhiệm của Thiên Chúa và của con người, khi nghe lời linh ứng của các thầy thuyết giáo. Giáo Hội biến thành một thứ giáo phái cống hiến cho các cá nhân các kinh nghiệm thần bí, chứ không phải là cộng đoàn liên đới, yêu thương tương trợ, như các cơ phận của cùng một thân thể, như con đường ḷng tin chung nữa. Kinh nghiệm ḷng tin kitô giờ đây chỉ c̣n là hiện tượng cá nhân chủ nghĩa và sự hiện thực riêng rẽ của các cá nhân. Tín hữu tụ tập thành các nhóm nhỏ chung quanh lời giảng dậy của người cha tinh thần này, người cha tinh thần nọ. Việc quy tụ nhau để cử hành tiệc Thánh Thể và các buổi phụng tự, cầu nguyện biến thành một h́nh thức bề ngoài, mất hết tính chất cộng đoàn và t́nh liên đới cụ thể. Mỗi người sống đạo một cách riêng tư, mạnh ai nấy kiếm t́m hiện thực cho riêng ḿnh trong việc tiếp xúc với Chúa Kitô phục sinh qua làn gió của Thánh Linh.

 

Trước hiện tượng phân hóa trên đây của tín hữu cộng đoàn Côrintô, các học gỉa Kinh Thánh t́m gán cho nó một tên gọi, một nhăn hiệu. Kẻ cho đó là phong trào Kitô do thái, người gọi đó là hiện tượng của chủ trương Phaolô cực đoan phóng khoáng. Nhiều học giả khác th́ coi đó là khuynh hướng ngộ đạo, tái thần thoại hóa ḷng tin kitô. Thật ra trong thư thứ I gửi tín hữu Côrintô Phaolô không hề đề cập tới vấn nạn kitô do thái liên quan tới luật lệ và ư nghĩ cứu độ của nó. Thế rồi trong cộng đoàn Côrintô không phải ai cũng pḥ Phaolô. Thánh Phaolô cũng không bênh vực nhóm tín hữu tâng bốc ḿnh, mà tố cáo mọi phe nhóm pḥ người này kẻ nọ, nảy sinh giữa ḷng cộng đoàn. Lập trường gọi tín hữu Côrintô là theo khuynh hướng thần thoại ngộ đạo xem ra cũng qúa đáng. V́ khi chấp nhận tin vào Tin Mừng, cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô (15,1-5) tín hữu Côrintô đi ngược lại thuyết ngộ đạo mang nặng sắc thái nhị nguyên. Theo đó các linh hồn bất tử thiên linh đă đánh mất đi ư thức về nguồn gốc của ḿnh nên mới bị tha hóa, nên mới từ trời rơi xuống trần gian. Do đó Lời mới từ trời xuống thế để rao giảng cho chúng hiểu biết trở lại căn cước đích thực của ḿnh và nhờ đó mà được giải thoát.

 

Hiện nay giới học giả Kinh Thánh gọi hiện tượng sống ḷng tin nói trên của tín hữu Côrintô là khuynh hướng tiền ngộ đạo, hay khuynh hướng đặc sủng hứng khởi và duy linh (H. Conzelmann, Der erste Brief an die Korinther, 30-31; E. Kaesemann, Appello alla libertà. Indagare polemica sul Nuovo Testamento, Torino 1972, 77-107; H. Schlier, Il tema centrale della prima Epistola ai Corinzi, in Il tempo della Chiesa, 236-254; R. M. Wilson, How Gnostic were the Corinthians?, in NTS 19(1972s) 65-74; B.A. Pearson, The Pneumatikós-Psychikós Terminology in 1 Corinthians. A Study in the Terminology of the corinthian Opponents of Paul and ist relation to Gnosticism, Missoula 1973).

 

Thật ra không nên gán cho tín hữu Côrintô một hệ thống hay khuynh hướng chính xác định đoạt nào. Chỉ cần ghi nhận rằng vào thế kỷ thứ I trong cộng đoàn Côrintô đă phát sinh ra một thứ Kitô giáo mang sắc thái hứng khởi cuồng nhiệt và xác tín sảng khoái. Tín hữu xác tín rằng từ nay trong tinh thần họ đă được giải thoát khỏi mọi hạn hẹp ô nhục và tước đoạt của cuộc sống dương thế này, và được tham dự vào các sức mạnh hứng khởi của sự sống và sự tự do của thế giới thiên linh rồi.

 

Tắt một lời, để giải thích cuộc sống kitô của ḿnh, tín hữu Côrintô đă dùng ch́a khóa xác tín vinh quang và ư thức chiến thắng về ḿnh, trong tâm thức tách biệt khỏi thế giới và lạ lẫm với vấn nạn và gương mù gương xấu của thập gía, vừa là dấu chỉ của sự bất lực và tước đoạt tột cùng, vừa là địa bàn của sự phục sinh mai sau nhờ sự can thiệp của ơn thánh Chúa.

 

VẤN ĐỀ HÔM NAY . VẤN ĐỀ HÔM NAY . VẤN ĐỀ HÔM NAY . VẤN ĐỀ HÔM NAY

 

- MỘT -

 

GIÁO LƯ HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

Ngày nay - tức là những năm hậu Công Đồng Vatican II và đặc biệt thời hậu hiện đại (post-modernité) cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI nầy – không chỉ có những tác giả vô thần hoặc bài Kitô-giáo muốn thông qua sách bào.phim ảnh và các phương tiện truyền thông đại chúng, mà tấn công Kitô-giáo, đặc biệt là Hội Thánh Công Giáo, ở mọi lănh vực, tựu trung vẫn là gieo rắc nghi ngờ các Chân Lư Kinh Than1h và Phúc Âm, làm nỗi bật những mặt yếu và điểm yếu của Hội Thanh Công giáo xét theo khía cạnh xă hội và cơ cấu trần thé,như việc một số linh mục có hành vi đạo đức bất xứng, hoặc đề cao sự tự do và quyền con người định đoạt về nhửng ǵ liên quan đến cá nhân. Nhưng kẻ thù nghịch dù lộ diện hoặc dấu mặt, ném đá đấu tay, và dù những hành động của chúng xấu xá, qủy quyệt và độc địa đến đâu, có làm hại Hội Thánh nhất thời đến đâu, th́ bộ mặt thật của chúng chẳng mấy chốc mà hiển hiện, và khi Xa-tan, kẻ chủ mưu hèn nhát ẩn nấp đằng sau, lần lượt không dùng tới những con bài vô dụng ấy nữa, th́ chúng mất điểm tựa, mau chóng bị lăng quên và vật vạ trong xấu hổ, dày ṿ và trụy lạc. Xa-tan luôn đi t́m những kế sách khác để phá hoại Hội Thánh Công giáo, và chỉ cần để ư một chút, sẽ thấy ngay HÔN NHÂN và GIA Đ̀NH là hai cái đích mà Xa-tan tập trung mọi nỗ lực đánh phá . Đức Thánh Cha và tất cả những tín hữu trung thành với Chúa Kitô và với Hội Thanh, đều nhất loạt đứng lên chiến đấu chống lại những mưu mô xảo trá của Xa-tan, thông qua những quyền con nười bị lạm dụng, thông qua một xă hội hưởng thụ và tôn thờ xác thịt, tiện nghi và tục hoá,v..v...Ngừa tránh thai, nạo phá thai, các h́nh thức thụ tinh ống nghiệm (in vitro), an tử, nhân bản vô tính, nghiên cứu [và/để sử dụng] tế bào gốc phôi ;... là những ǵ người ta thực hiện v́ lập luận chúng phản ảnh tự do và các quyền của con người.

    Nhưng « nội ứng » bao giờ cũng là thế lực đáng sợ nhất, v́ nằm sâu nằm cao trong Hội Thánh, có uy tín nhất định và có tŕnh độ hiểu biết và lư luận ở mức cao. Dù lầm lạc hoặc « nằm vùng » theo ư đồ chiến lược của Xa-tan, th́ họ đều biết sử dụng hềt tài năng và trí tuệ của ḿnh vào việc phá hoại Hội Thánh của Chúa. Đă có không ít người – trong đó có cả các vị gáio phẩm, giáo sĩ, tu sĩ có ít nhiều tên tuổi – đă  tỏ ra « khó chịu » với Toà Thánh (qua Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin) khi các tác giả « thân thiết » của họ bị Ṭa thánh cảnh cáo hoặc ra kỹ luật. Thay v́ suy nghĩ cho thấu đáo và tốt nhất là cầu nguyện cho sự sám hối (conversion) của các tác giả, th́ họ lại đưa ra thảo luận, viết bài và công kích Hôi Thánh, mà đối tượng « các cảm » là chính Vị Cha Chung Hội Thanh và các cộng sự trung thành với Hội Thánh. Suy nghĩ, hành xử ấy không chỉ gây hiệu ứng « domino », mà là ng̣i thuốc nổ gây thiệt hại khôn lường cho Hội Thánh, mà trước mặt, gần gũi nhất, hính là những người nghe, đọc các bài viết, cac lời b́nh phẩm của họ, rồi v́ đó mà mất đức tin, gây kết bè kết phái và chia rẽ trong Hội Thánh. Cái sai cái xấu của những Vị như nguyên Tổng giám mục Milingo hay là của các linh mục phạm ấu dâm ở Los Angelas hoặc Boston, tuy gây « sốc » và không ít gương xấu, nhưng tỏ tường và dễ nhận định ; c̣n các « nhà tư tưởng » như LM Sobrino (thần học giải phóng), như Cha Phan Đ́nh Cho (người Mỹ gốc Việt), như LM Haight, như LM Dupuis, như Hans Kung,v..v.. sau khi đă lầm lạc, lại cố chấp trong u mê sai trái và chủ tâm lôi kéo những người thuạn theo, để chống lại Hội Thánh, gây bao dau khổ và tác hại cho Hội Thánh.

     Được giao phó ǵn giữ và phát huy Chân Lư, Hội Thánh luôn trung thành với Kinh Thánh, vơi truyền thống các Tông Đồ và Thánh Phụ, và lịch sử Hội Thánh được viết bằng máu, đượcc minh chứng bằng máu, được ǵn giữ vẹn toàn bằng máu, đă khiến cho đức tin ngày càng nên tinh tuyền. Thiên Chúa – Chúa Giêsu Kitô - Hội Thánh Công-giao – mà các « nhà tư tưởng » mổ xẻ, phân tích, biến hoá THEO SUY NGHĨ và THEO Ư (thought and will) của họ, và đặt làm đối  trọng với Thiên Chúa thật, Chúa Kitô Là Thiên Chúa thật và là người thật, Hội Thánh Nhiệm Thể mà Chúa Kitô là Đầu.  Một Thiên Chúa, một Chúa Kitô, một Hội Thánh « sản phẩm » củ họ, được h́nh dung và ...tạo dựng theo ư của họ, được thực hiện từ và trong kiêu ngạo, trong hoang tưởng, th́ gọ hoàn toàn « có quyền » tôn thờ, quảng bá,NHƯNG CHẮC CHẮN LÀ Ở VỊ THẾ của những người Hy Lạp hoặc La Mă xổ xưa, tức là những người dă dựng nên hàng tá thần và đặt cho nhiệm vụ theo sở thích và tưởng tượng của họ, CHỨ TUYỆT NHIÊN KHÔNG THỂ là những người nghiêm túc và khiêm nhường SUY NIỆM về Thiên Chúa,Chúa Kitô và Hội Thánh, để HẾT L̉NG, HẾT SỨC,HẾT TÂM TRÍ tôn thờ, yêu mến và loan báo cho mọi người được nên như chính ḿnh. Như thế, cái sai đáng sợ nhất của họ, là từ địa vị thụ tạo, họ không chỉ bắt chước Xa-tan chống lại Quyền Uy Thiên Chúa, mà c̣n đi xa hơn nữa : TẠO DỰNG MỘT THIÊN CHÚA và từ « năng lực tạo dựng » ấy, mà THAY ĐỔI CẢ KINH THÁNH và PHÚC ÂM, triệt bỏ mọi mầu nhiệm và tín điều, để TIẾP TỤC TẠO DỰNG MỘT GIÊSU KITÔ MỚI LẠ HOÀN TOÀN. Với một « Giêsu Kitô » như thế, hậu quả tất yếu là Hội Thánh chẳn có giá trị thật sự nào và v́ thế, cũng chẳng có sứ mệnh ǵ (missio được hiểu như « sứ mệnh », « truyền giáo »).

   Để phân tích các tác giả và các sách viết gieo rắc sai lạc của họ, không phải là chuyện tóm tắt trong một vài trang giấy. Và càng không phải là chuyện « cả vú lấp miệng em », v́ đó không bao giờ là chủ trương của Hội Thánh. Humanum errare est ! Nhân bất thập toàn ! Khi không có khiêm nhường, khi thiếu hoặc không cầu nguyện nhiều, th́ các tri thức dễ dàng biến chủ nhân chúng nên tư phụ, kiêu căng và không sai lạc th́ mới là lạ. Để pḥng ngừa những điều ấy, cũng như ĐƯA RA NHỮNG TIÊU CHÍ ho mọi tín hữu nhờ đó mà phân định được ĐÚNG SAI, theo  chân Giáo Lư của Hội Thánh, Hội Thánh dạy mọi người KHI SUY NIỆM – KHI NÓI – KHI VIẾT – KHI ĐỌC - phải tuân theo những điều sau đây :

 

 

 

TIÊU CHÍ PHÂN ĐỊNH TÍN LƯ XÁC THỰC CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

 

I.                     VỀ SỰ TRUNG GIAN CỨU  RỖI DUY NHẤT VÀ PHỔ QUÁT CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ

1.       Phải tin vững vàng rằng Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người, chịu đóng đinh và đă sống lại, là Đấng Trung Gián duy nhất và phoể quat cho ơn cứu rỗi của toàn thể nhân loại

2.       Cũng phải tin vững vàng rằng Chúa Giêsu Nazaret, Con Đức Bà Maria và Đấng Cứu  Độ thế giới duy nhất, là Con và Ngôi Lời của Thiên Chúa. Do tính chất độc nhất của chương tŕnh cứu độ của Thiên Chúa, mà trung tâm là Chúa Giêsu Kitô, phải nắm chắc thêm rằng công tŕnh cứu  độ của Ngôi Lời được chu toàn trong và nhờ Chúa Giêsu Kitô,Con Thiên Chúa Cha nhập thể, với tư cách là Đấng Trung Gian ơn cứu độ của  toàn thể nhân loại. Như thế không chỉ việc khẳng định một sự tác biệt giữa Ngôi Lời và Chúa Giêsu hoặc là một sự chia cắt giữa hoạt động cứu độ của ngôi Lời và  của Chúa Giêsu, mà cả đưa ra và tán thành luận đề một hoạt động cứu độ của Ngôi Lời như là Ngôi Lởi, trong thiên tính của người, độc lập với nhân tính của Ngôi Lởi nhập thể, đều nghịch lại với đức tin Công giáo.

 

II.                   VỀ TÍNH DUY NHẤT VÀ TRỌN VẸN CỦA MẠC KHẢI CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ

3.       Phải tin vững vàng rằng Chúa Giêsu Kitô là Đấng trung Gian, là sự hoàn thành và trọn vẹn của Mac Khải. V́ vậy nói rằng mạc khải qua/nơi Chúa Giêsu Kitô là hạn chế, không trọn vẹn và bất toàn, là nghịch với đức tin của Hội Thánh. Ngoài ra, dù cho người ta chỉ  thủ đắc sự hiểu biết trọn vẹn về chân lư Thiên Chúa vào ngày Đức Chuá quang lâm, th́ mạc khải lịch sử của Chúa Giêsu Kitô trao ban tất cả những ǵ là cần thiết cho sự cứu độ của con người và không cần phải được các tôn giáo khác bổ sung.

4.       Việc khẳng định rằng những hạt rải rác chân lư và tốt lành t́m thấy trong các tôn giáo khác tham dự một cách nhất  định vào các chân lư chứa đựng qua/trong Chúa Giêsu Kitô, là phù hợp với tín lư Công giáo. Ngược lại, việc cho rằng các yếu tố chân lư và tốt lành hoặc một số trong các yêu tố đó, không bắt nguồn từ sự trung gian - nguồn cội của Chúa Giêsu Kitô, là một khái niệm sai lầm.

 

III.                  VỀ HOẠT ĐỘNG CƯU RỖI PHỔ QUÁT CỦA CHÚA THÁNH LINH

5.       Đức tin của Hội Thánh dạy rằng Chúa Thánh Linh, vào cuộc  sau khi Chúa Giêsu Kitô sống lại, c̣n là Thần Khí của Chúa kitô được Chúa Cha sai đên, hoạt động một cách có tính cứu độ nơi các Kitô-hữu cũng như nơi những người ngoài Kitô-hữu. V́ vậy sẽ nghịch với đức tin Công giao nếu cho rằng hoạt động cứu độ của Chúa Thánh Linh có thể trải rộng ra bên kia chương tŕnh cứu rỗi duy nhất phổ quát của Ngôi Lời nhập thể.

 

 

 

IV.                VỀ SỰ QUY VỀ CỦA MỌI NGƯỜI VÀO HỘI THÁNH

6.       Phải tin vững vàng rằng Hội Thánh là dấu chỉ và khí cụ ban ơn cứu rỗi cho tất cả mọi người. Sẽ nghịch với đức tin Công giáo, nếu cho rằng các tôn giáo khác nhau trên thế giới cũng là  những con đường bổ sung cho Hội Thánh về những ǵ thuộc  về ơn cứu rỗi

7.       Theo Tín Lư Công giáo, tín đồ các tôn giáo khác cũng phải quy về Hội Thánh và tất cả đều được gọi  tham dự vào Hội Thánh.

 

V.                 VẾ GIÁ TRỊ VÀ CHỨC NĂNG CƯU RỖI CỦA CÁC TRUYỀN THỐNG TÔN GIÁO.

8.       Theo tín lư Hội Thánh, phải nắm chắc rằng ; « những ǵ Chúa Thánh Linh làm trong tâm hồn con người và trong lịch sử các dân tộc, trong các nần văn oá và các tôn giáo, đều chu toàn một chức năng chuẩn bị Phúc Âm (Lumen Gentium số 16). V́ thế, sẽ chính đáng nếu cho rằng Chúa Thánh Linh, để cứu độ những người ngoài Kitô-giáo, cũng sử dụng các yếu tố chân ly và tốt lành t́m thấy trong các tôn giao khác nhau, nhưng nếu cho rằng các tôn giao nầy là những con đường cứu độ, th́ không có một nền tảng nào trong thần học Công giáo. Quả thật, chúng bày ra những lỗ hổng, những bất toàn và những sai lạc về các chân lư căn bản liên quan đến Thiên Chúa, con người và thế giới.

            Ngoài ra, sự việc rằng các yêu tố chân lư và tốt lành của các tôn giáo khác biệt có thể chuẩn bị các

dân tộc và nền văn hoá đón nhận biến cố cứu độ của Chúa Giêsu Kitô, không giả định rằng các bản văn

linh thánh của các tôn giáo khác cũng có thể được coi như bổ sung cho Cựu Ước, vốn là sự chuẩn bị

trực tiếp cho biến cố Chúa Kitô.

 

Những điều trên đây đă được Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin (do Tổng Trưởng Joseph Hồng Y Ratzinger và Đức TGM  Thư kư Tarcisio Bertone) tŕnh lên Đức Giáo Tông Gioan-Phaolô II và được Người phê chuẩn vào buổi triều yết ngày 19.01.2001

 

+++++++++++++

 

- HAI -

 

Hiện nay ở Hoa Kỳ đang bùng lên cuộc tranh luận giữa những người theo Thuyết Tạo Dựng (Creationism) và những người theo Thuyết Tiến Hoá (Evolutionism). BTGH đă giới thiệu vấn đề nầy trong số 57,mục “Vấn Đề hôm nay” (Thuyết Tạo Dựng). Quả thật đây không phải là một vấn đề nhỏ, nhất là đối với các giáo lư viên khi phải giải thích vấn đề nầy một cách rốt ráo, đúng đắn, không thể giữ thái độ giáo điều, vơ đoán. Đáng tiếc thay – và đúng như lời nhận xét của tác giả bài viết Lê-Anh-Huy mà BTGH giới thiệu hôm nay - người ta nói nhiều về Darwin,nhưng lại không đọc sách của Darwin, nghĩa là không nắm vững lịch sử,nội dung,suy diễn và kết luận của Darwin. Đó là điều phải hay đổi và không c̣n sớm nữa! Bài viết sau đây của Lê-Anh-Huy chỉ đề cập đến quan điểm siêu h́nh của Darwin, song cũng cung cấp một cái nh́n khá sâu xa. Tác giả tiến sĩ Lê-Anh-Huy là một người Tin Lành, nhưng quan điểm và lập trường “hộ giáo” rất đáng khâm phục và những sách, tài liệu,bài viết của ông phần lớn có thể sử dụng cho giảng dạy, giải thích về nhiều vấn đề thần học,Kinh Thánh.

 

 

QUAN ĐIỂM SIÊU H̀NH CỦA DARWIN

Vào năm 1859, Charles Darwin cho xuất bản cuốn sách Nguồn Gốc Các Loài (The Origin of Species). Trong cuốn sách này, ông đặt nền tảng đầu tiên cho thuyết tiến hóa, nói rằng, thế giới sinh học hiện nay tiến hoá một cách tiệm tiến từ một hay một số ít loài đơn giản hơn lên loài phức tạp hơn.


Darwin bắt đầu bàn về thuyết tiến hoá (TTH) dựa vào quan sát thực nghiệm trong sự thuần hoá (domestication) thú rừng thành gia súc. Lấy tỉ dụ là chó nhà. Theo ông, sở dĩ có loài chó nhà là v́ con người gia hóa chó hoang. Sau khi thú hoang đă trở thành gia súc rồi, con người tiếp tục cấy giống (breeding) theo sở thích riêng của mỗi người để từ một loài thú hoang, có được nhiều giống chó nhà như hiện nay (tỉ dụ như chó săn, chó Nhật, chó xù, chó cụt đuôi, chó mực, v.v.). Theo ông quá tŕnh này bắt đầu từ một thay đổi nhỏ trong đặc tính của một loài thú (tỉ dụ như lông màu đen) - gọi là biến dị, rồi do con người chọn giống, cố kết đặc tính đó lâu ngày nên có loài cho mực. Trong quá tŕnh thuần hóa và cấy giống, thiên nhiên tạo ra những biến dị, c̣n con người là yếu tố chính, chọn và cố kết một biến dị nào đó của con thú mà họ thích. Do ư thích của mỗi người, thực phẩm, nhiệt độ, môi trường, v.v. khác nhau, nên bắt đầu từ một loài chó hoang, nhiều người khác nhau đă gây giống được nhiều giống chó nhà hiện nay. 

Dựa trên kết luận này,Darwin tiếp tục đi xa hơn nữa đưa ra lư thuyết Chọn Lọc Tự Nhiên (CLTN) (Natural Selection) để giải thích nguồn gốc các loài trong thiên nhiên. Theo ông, tất cả các loài hiện nay bắt nguồn từ một số ít loài đơn giản hơn, gọi là loài cha mẹ. Trong loài cha mẹ này có một số biến dị nào đó do thiên nhiên tạo ra. Nếu biến dị đó có lợi cho sự sinh tồn của loài đó, th́ biến dị đó cứ được củng cố, và theo thời gian, loài đó phát triển thành loài mới và sinh tồn mạnh mẽ. Ngược lại, nếu biến dị đó có hại cho loài, th́ nó sẽ bị diệt chủng. Trong khi yếu tố chính trong quá tŕnh gia hóa và cấy giống là con người, yếu tố chính trong quá tŕnh CLTN là thiên nhiên. Chính thiên nhiên cung cấp biến dị, tạo điều kiện cho quá tŕnh tiến hóa; cũng chính thiên nhiên “chọn” cho loài nào sống v́ nó thuận với điều kiện sống của môi trường, và tiêu diệt loài nào đó v́ nó có những biến dị nghịch với môi trường.

    Trong cuốn Nguồn Gốc Các Loài,Darwin chỉ bàn về những nguyên tắc căn bản của TTH. Vào năm 1871, ông cho xuất bản cuốn sách nữa, Sự Ra Đời Của Con Người (The Descent of Man), trong đó nguồn gốc con người mới được bàn đến một cách cụ thể. Trong cuốn sách này, Darwin cho rằng con người có thể xuất thân từ những động vật thấp hơn như khỉ, từ nhận xét rằng cấu trúc cơ thể và sự phát triển bào thai của các loài này có nhiều điểm tương đồng. Do các công tŕnh này,Darwin được nhiều người xem là cha đẻ của TTH. Tiếp theo Darwin, khoa học gia người Nga Oparin đề ra thuyết tạo sinh vô cơ (abiogenesis) để bổ xung thêm cho thuyết tiến hoá Darwin. Thuyết tạo sinh vô cơ là một chủ thuyết cho rằng sự sống bắt đầu bằng sự kết hợp ngẫu nhiên của các chất vô cơ (như Oxigen, Hydrogen, Nitrogen, Carbon) do sấm sét làm xúc tác. Từ đó, TTH Darwin-Oparin được xem như nền tảng khoa học cho các chủ nghĩa duy vật, trong đó có chủ nghĩa cộng sản (CNCS). Cơ sở lư thuyết của CNCS là duy vật biện chứng lịch sữ quan, cũng là một kiểu tiến hóa, theo đó, xă hội con người tiến hóa từ tổ chức thấp lên cao, nhờ vào giai cấp đấu tranh, cũng như sự tiến hóa của các loài từ mức thấp lên mức cao vậy, do quá tŕnh chọn lọc tự nhiên vậy. TTH cũng được một số người cổ xúy như là đồng minh cho Phật giáo, v́ về bản chất, triết lư tôn giáo Á Đông này cũng là một kiểu tiến hóa của “tâm thức” nhờ vào tu hành.

   Tại Việt Nam, TTH có môi trường để phát triển. TTH không c̣n là một bộ môn khoa học trong trường nữa mà một chính sách của nhà nước để đào tạo nên công dân xă hội chủ nghĩa. Điều kỳ lạ là có một phó tiến sĩ người Việt trong nước, sinh ra và lớn lên tại miền Bắc, tốt nghiệp hậu đại học từ Đông Âu cũ (cộng sản), chấp nhận TTH như là một hiện thực và dùng nó để chỉ trích các chính sách của nhà nước CSVN [2]. Có một người Việt Nam khoa bảng khác tại hải ngoại có tŕnh độ tiến sĩ khoa học, có khuynh hướng thân cộng sản cũng khẳng định TTH là một dữ kiện (fact) [3], và dùng nó để chống báng Đức Chúa Trời. Trong khi đó, có tiến sĩ Phan Như Ngọc [4], cũng đă từng lớn lên trong chế độ Xă Hội Chủ Nghĩa tại miền Bắc Việt Nam, từng giảng dạy các bộ môn duy vật tại các trường đại học Hà Nội, đă từ bỏ chủ nghĩa duy vật mà trở thành Cơ Đốc nhân. Trên thế giới cũng có rất nhiều khoa học gia duy vật, nhưng cũng có các khoa học gia khác như tiến sĩ vũ trụ học, Hugh Ross trở nên Cơ Đốc nhân v́ không thể chứng minh được là vũ trụ tự nhiên mà có [5]. Do đó, chúng ta thấy rằng, mặc dù trên bề mặt con người rất khác nhau về tuổi tác, địa vị, giai cấp, học vấn, giống phái, chủng tộc, kinh nghiệm đời, quan điểm chính trị, v.v., cả nhân loại chỉ ở một trong hai phe: Một phe cho rằng có Đấng Tạo Hoá tạo ra vũ trụ trong đó có con người; một phe cho rằng vũ trụ tự nhiên mà có. Trong cả hai phe, có đủ các chuyên gia khoa học có nhiều năm nghiên cứu trong các ngành khoa học liên đới. Như vậy vấn đề TTH không chỉ nằm trong mặt phẳng vật chất, và tâm trí mà nằm trong mặt phẳng tâm linh, trên đó con người phải tự hỏi và phải trả lời cho chính ḿnh: Có Đấng Tạo Hóa hay không?

 Trong bài này chúng tôi không tŕnh bày quan điểm chủ quan của chúng tôi về khía cạnh khoa học của TTH, mà bàn về đặc tính tâm lư và tâm linh của những người ủng hộ cho thuyết tiến hóa, đặc biệt là người Việt Nam, và xin hoăn bàn về khía cạnh khoa học trong những bài sau. Ư tưởng chúng tôi trong bài này dựa vào các sự kiện quan sát khi tiếp xúc với những người ủng hộ thuyết tiến hoá trong cộng đồng người Việt Nam tại hải ngoại. Theo nhận xét của chúng tôi, các người ủng hộ TTH có các điểm chung sau đây:

 

1-Nói nhiều về Darwin,nhưng không đọc sách của Darwin:

Các tác phẩm củaDarwin được rất nhiều người đề cao tới như là một công tŕnh khoa học, là nền tảng cho chủ nghĩa duy vật. Người ủng hộ TTH nhắc tới Darwin như là người vô thần đầu tiên đánh bại Thánh Kinh, v́ Thánh Kinh dạy rằng chính Đức Chúa Trời tạo dựng ra vũ trụ trong đó có loài người. Họ biểu lộ sự ngưỡng mộDarwin trong các bài viết của họ, với các tựa đề giựt gân như “Thượng Đế đă chết,” “Thượng Đế hấp hối,” v.v. nhại theo kiểu triết gia Friedrich Nietzsche. Nhưng nếu họ đọc sách Darwin th́ sẽ biết ông không phải là người vô thần như họ muốn. Nếu chúng ta muốn thật sự biết quan điểm siêu h́nh (metaphysical) củaDarwin th́ chúng ta phải đọc NGCL. Trong đoạn kết của cuốn sách này,Darwin đă viết như sau:

 “Quan niệm về sự sống này [tức là TTH] có vài điểm mạnh. Đầu tiên được Đấng Tạo Hóa truyền hơi thở vào để thành một hay vài thể sống đơn giản nhất. Từ một sự bắt đầu đơn giản đó đă và đang tiến hóa ra vô số những sinh thể đẹp và kỳ diệu nhất trong khi hành tinh này vẫn xoay vần theo đinh luật hấp dẫn cố định.”

 Chúng ta thấy rằng sau khi bàn về TTH trong hơn 600 trang sách, cuối cùng Darwin mới bày tỏ quan điểm siêu h́nh của ông trong một câu ngắn ngủi trong phần kết luận. Quan điểm của ông là có Đấng Tạo Hóa; Ngài đă tạo dựng ra một số sinh thể đơn giản đầu tiên; và sau đó Ngài đă để cho các sinh thể này tự do tiến hóa mà không can dự vào. Nổ lực của ông không nhằm vào việc trả lời câu hỏi là có Đấng Tạo Hóa hay không mà là sự liên hệ của Ngài với thế gian là bao nhiêu. Quan điểm này “có công” bảo vệ Đấng Tạo Hóa khỏi bị thế gian trách móc v́ những đau khổ ở đời (v́ Đấng Tạo Hóa không có trách nhiệm ǵ với thế gian nữa sau khi đă tạo dựng đầu tiên lên vũ tru.) Thật không may choDarwin, công tŕnh của ông được nhiều người nhận quàng là cơ sở khoa học cho chủ nghĩa vô thần (atheism), là chủ nghĩa không tin có Đấng Tạo Hóa.

 Nhưng có bao nhiêu người trên đời này đúng nghĩa là vô thần? Người Mỹ có câu châm ngôn: “Ở dưới hầm trú cá nhân không có ai là vô thần cả.” Khi c̣n được sống, con người thích làm theo sở thích của ḿnh. Những điều ḿnh thích có thể trái ư với Đức Chúa Trời. Nhưng khi đối diện với sự chết con người mới biết là ḿnh sẽ không c̣n dịp làm những điều ḿnh thích nữa. Khi đó bản ngă của con người mới có dịp hạ xuống để giúp con người nhận biết Đức Chúa Trời. Như vậy sự chết không phải là hoàn toàn vô ích cho con người, là loài có lư trí mạnh. Có sự chết con người mới biết ḿnh nhỏ nhoi trước vũ trụ. Trước sự chết niềm tin con người mới thật sự được chứng nghiệm hay không. Chỉ có sự chết mới có đủ sức mạnh để thách thức lư trí con người một cách tối hậu mà thôi.

 Như vậy cái mà chúng ta gọi là “vô thần” thật sự là “chối bỏ Đức Chúa Trời.” Khi chối bỏ Ngài, con người cần một cái cớ “hữu lư.” Cái cớ đó chính là TTH. V́ họ chỉ cần một cái cớ, nên không cần t́m hiểu xem Darwin tin điều ǵ, viết điều ǵ, làm sao đi tới cái kết luận của ông. Họ lười biếng tư duy, chỉ mù quáng chụp lấy công tŕnh của ông, thêm thắt chút đỉnh tùy tiện, rồi gọi đó là siêu h́nh học của ḿnh. Mỗi khi tâm linh đă có khuynh hướng chống báng Đức Chúa Trời, th́ cả tâm linh lẫn năo bộ không cần phải động nữa. Họ chụp vội lấyDarwin như “thấy người sang bắt quàn làm họ” mà không buồn cho tác giả một chút ít kính trọng bằng cách bỏ chút th́ giờ đọc qua tác phẩm của ông ta.

 

2- “Thuyết tiến hoá là một dữ kiện (fact)”:

 Tiến hóa nhân lập đi lập lại câu nói này với một âm điệu rất “khoa học.” Nhưng không may nó phơi bày ra ánh sáng một khủng hoảng trong hệ thống tư duy của họ: Nếu đă là “thuyết” th́ không thể là “dữ kiện” được. Dữ kiện là một cái ǵ sáng tỏ, hoàn chỉnh, “đụng chạm” được, “thấy” được, “sờ” được, v.v. Thuyết là một “câu chuyện” được diễn dịch theo ư riêng dựa vào một số dữ kiện. TTH dựa trên một số dữ kiện quan sát của Darwin về sự giống nhau của các loài, từ đóDarwin diễn dịch ra là loài nào giống nhau ắt phải có chung một nguồn gốc. Có thể mọi người đồng ư vớiDarwin về sự giống nhau của một số loài, nhưng không phải mọi người đều đồng ư với ông rằng nếu chúng đă giống nhau, ắt hẵn phải có chung nguồn gốc. Do vậy, TTH vẫn c̣n là một lư thuyết chứ không thể là một dữ kiện được. Ngay cả như thuyết Big Bang - là lư thuyết về nguồn gốc của vũ trụ, chặc chẽ hơn nhiều lần về mặt lư thuyết lẫn thực nghiệm so với thuyết tiến hóa, vẫn được gọi là thuyết chứ vẫn không được xem là dữ kiện. Nếu một điều đă là dữ kiện, th́ chúng ta không cần nghiên cứu thêm để hoàn chỉnh nó. Nhưng ngày nay, các khoa học gia tiến hóa vẫn tiếp tục t́m ṭi trong lănh vực này; có thành quả khoa học củng cố thuyết tiến hoá, có thành quả chống lại.

 V́ không đọc Darwin, nên tiến hoá nhân không biếtDarwin đă dành ra ít nhất là một chương để bàn về các yếu điểm, trong đó có sự hiếm hoi về bằng chứng di tích, trong lư thuyết của ông (Chương Sáu: Difficulties of the Theory). Do sự hiếm hoi này, mà cho tới bây giờ sau gần 150 năm người ta vẫn c̣n đào xới để hy vọng t́m ra nhưng di tích về các loài chuyển tiếp (transitional species - sẽ bàn tới trong các bài sau) để chứng nghiệm cho lư thuyếtDarwin. Do vậy, khi một người muốn tŕnh bày cho đọc giả một lư thuyết khoa học một cách khách quan, người đó cần phải tŕnh bày cả hai mặt, thuận và lợi. Nhất là người đó lại có học vị tiến sĩ khoa học, đă từng giảng dạy tại trường Đại Học Khoa Học Sài G̣n, đă từng có các công tŕnh nghiên cứu khoa học, th́ sự đ̣i hỏi trong khi viết lách phải cao hơn người khác. Nhưng trong các bài viết của Giáo Sư Tiến Sĩ Trần Chung Ngọc, là xướng ngôn viên cho TTH người Việt Nam, đọc giả ít thấy ông tŕnh bày dữ kiện khoa học mà hay nghe ông trích dẫn câu nói của các tiến hóa nhân khác về TTH. Như vậy niềm tin của tiến hóa nhân là niềm tin của kẻ khác, và chúng ta biết rằng không phải lúc nào người khác cũng đúng. Như vậy, mặc dù Tiến Sĩ Trần Chung Ngọc đă từng đi qua sự huấn luyện cam go của người làm khoa học: chứng, phản chứng, thu thập, tổng hợp, và phân tích dữ kiện, v.v.- đứng trước vấn đề tâm linh, ông cũng giống như đại đa số các người khác.

 Trong khi đó, niềm tin của Cơ Đốc nhân là tiếng thét của chính linh hồn ḿnh về sự Chúa Jesus là ai. Khi “Đức Chúa Jêsus đă vào địa phận thành Sê-sa-rê Phi-líp, bèn hỏi môn đồ, mà rằng: Theo lời người ta nói th́ Con người là ai? Môn đồ thưa rằng: Người nói là Giăng Báp-tít; kẻ nói là Ê-li; kẻ khác lại nói là Giê-rê-mi, hay là một đấng tiên tri nào đó. Ngài phán rằng: C̣n các người th́ xưng ta là ai? Si-môn Phi-e-rơ thưa rằng: Chúa là Đấng Christ, con Đức Chúa Trời hằng sống.” (Ma-thi-ơ 16:13-16) Đây là lần đầu tiên có một người thốt lên điều thú nhận về Chúa Jesus là Đấng Christ. Lời thú nhận này đă đóng dấu vào người đó dấu ấn của sự cứu rỗi đời đời trong Chúa Jesus Christ. Niềm tin của Cơ Đốc nhân không dựa trên điều kẻ khác nói về Đấng Christ, về Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, mà là sự thú nhận của chính ḿnh về Ngài. Do vậy khi có một giáo hoàng hay “giám mục” hay “mục sư” nào đó nói khác đi về Chúa Jesus Christ, hay công nhận TTH là đúng, Cơ Đốc nhân thật vẫn là người thú nhận trước đám đông và trong sự riêng tư với Ngài, là chính Ngài là Đấng Christ, là chủ tể của vũ trụ này, trong đó có loài người chúng ta.

 

 

THỰC TÊ CÓ CHỨG NGHIẸM CHỦ NGHĨA DARWIN KHÔNG?

Trong bài trên đây chúng tôi đă tŕnh bày quan điểm siêu h́nh của Darwin trong cuốn sách Nguồn Gốc Các Loài (NGCL). Trong bài này chúng tôi xin phân tách quan điểm khoa học của ông về thuyết tiến hóa (TTH). 

Trong khoa học thực nghiệm một lư thuyết được h́nh thành bằng phương pháp qui nạp. Phương pháp luận này bắt đầu bằng việc quan sát một số trường hợp cá biệt, rồi từ đó rút ra kết luận chung cho chúng, sau đó tổng quát hóa thành qui luật chung cho mọi trường hợp, gọi là thuyết. Sau đó lư thuyết đó cần được chứng nghiệm trong thực tế cho các trường hợp khác. Nếu lư thuyết đó đứng vững trong "mọi" thử nghiệm th́ nó trở nên luật. Tỉ dụ như một người thấy trái chuối rơi từ cây xuống đất. Lần khác liệng trái banh lên trời cũng thấy nó rơi xuống đất. Quan sát như vậy nhiều lần, anh ta mới dùng phép qui nạp để rút ra một kết luận rằng mọi vật đều bị trái đất hút xuống. Từ đây ông ta thành lập thuyết hấp dẫn, nghĩa là hai vật A và B có trọng khối hút lẫn nhau bằng một lực tỉ lệ với trọng khối của chúng. Qua nhiều thời đại, thuyết hấp dẫn đều được thực tế chứng minh là đúng, chẳng những đối với các vật nhẹ như trái banh, hay trái chuối, mà c̣n các vật lớn như phi thuyền, trái đất, hay các hành tinh khác. Khi đó nó trở thành luật vạn vật hấp dẫn. Nếu thuyết vạn vật hấp dẫn bị vấp ngă trong một vài trường hợp nào đó, người ta cần phải trở lại ban đầu để điều chỉnh các giả thuyết, có thể phải thay đổi mô h́nh để lư thuyết đó được phản ảnh thực tế hơn.

Thuyết Tiến Hóa (TTH) cũng được h́nh thành theo một phương pháp luận tương tự như vậy. Nhờ vào sự nghiên cứu các giống gia súc như chim bồ câu, chó, thỏ, gà vịt, v.v. và các cây trồng, Darwin tin rằng tất cả các giống gia súc hiện nay đều xuất xứ từ các giống hoang tương ứng. Lấy thí dụ là các loài bồ câu nhà. Tác giả cho rằng chúng đều xuất xứ từ một loài bồ câu hoang, gọi là "bồ câu đá" (rock-pigeon) v́ năm lư do, trong đó có hai lư do là tác giả bài này cho là quan trọng: 1- Tất cả các giống bồ câu nhà mặc dù khác nhau vẫn có thể giao hợp với nhau. 2- Có nhiều giống bồ câu không có màu lông giống loài bồ câu đá, nhưng khi cho giao hợp với nhau th́ con của chúng lại có màu lông của loài này [2]. Từ sự nghiên cúu các loài gia súc này, Darwin dùng phép qui nạp kết luận rằng chúng đều xuất xứ từ các thú hoang. Từ đó ông đi xa hơn nữa, dùng phép ngoại suy để đi tới kết luận rằng các loài trong thiên nhiên, mặc dù bề ngoài có vẻ khác nhau, đều xuất xứ từ một loài cha mẹ nào đó có trước. Nếu tiếp tục đi ngược chiều thời gian th́ chỉ có một hay một số ít loài nguyên thủy, là cha mẹ của mọi loài, do Đấng Tạo Hóa tạo ra [3]. Nền tảng của thuyết tiến hóa là: 1- Phải có các biến đổi nhỏ (hay biến dị - mutation) và 2- Cần có thời gian dài để tích lũy và củng cố các thay đổi nhỏ này thành thay đổi lớn. Hấp lực của TTH là yếu tố thời gian v́ thời gian có thể làm thay đổi mọi chuyện theo sự suy nghĩ của con người. 

Theo tinh thần khoa học, THH của Darwin áp dụng cho các loài trong thiên nhiên cần phải được chứng nghiệm trong thực tế. Nếu một loài nhờ các biến đổi nhỏ tích lũy trong hằng triệu năm mà thành ra loài mới, th́ chúng ta phải thấy trong thiên nhiên vô số các loài chuyển tiếp (transistional species) tồn tại. Các loài chuyển tiếp là loài mang đặc tính của cả loài cha mẹ và loài con cái. (TTH cho rằng các loài cá dưới biển tiến hóa thành động vật trên đất. Như vậy, loài chuyển tiếp là loài mang đặc tính của con cá sống trong nước thở bằng mang và của con thú sống trên cạn, thở bằng phổi.) V́ quá tŕnh tiến hoá, theo Darwin, tiến hành trong thời gian rất dài, khi chết, các loài chuyển tiếp này phải để lại di tích trong các tằng địa chất, thể hiện các đặc tính chuyển tiếp của nó. Nhưng thực tế chứng nghiệm ngược lại: Trong thiên nhiên chúng ta không thấy vô số các loài chuyển tiếp và địa chất học cũng không t́m thấy các di tích nào của các loài này. Đây một trở ngại lớn cho thuyết Darwin. Ông viết trong chương sáu của cuốn Nguồn Gốc Các Loài về trở ngại này rằng: "Trước hết, nếu các loài chuyển tiếp từ các loài khác bằng những thay đổi nhỏ tiệm tiến th́ tại sao chúng ta lại không t́m thấy vô số những loài chuyển tiếp ở đâu cả? Tại sao các loài trong thiên nhiên lại không ở trong trạng thái lộn xộn mà lại rất đặc thù?"

Tuy vậy, trong hồ sơ địa chất, vẫn có một, và chỉ một con mang đặc tính của cả hai loài. Đó là con vật có tên là Archaeopteryx (Xin xem H́nh 1). Di tích địa chất của con vật này cho chúng ta biết con vật có cánh, và đuôi, bao phủ bởi lông ống. Cánh và đuôi có lông ống là chỉ dấu của con chim. Con vật này c̣n có hàm với răng chứ không có mỏ, đuôi có nhiều xương, và trên cánh và chân có móng vuốt. Đây là chỉ dấu của con ḅ sát. Các nhà tiến hoá cho rằng đây là bằng chứng hùng hồn nhất của thuyết tiến hóa, cho rằng, loài ḅ sát tiến hóa thành chim, và con Archaeopteryx là loài chuyển tiếp giữa hai loài này.  

Tuy vậy, con Archaeopteryx có thật sự là bằng chứng cho việc loài ḅ sát nhờ một biến dị nào đó, mọc cánh và bay thành chim? Chúng ta hăy làm một thí nghiệm tư tưởng sau: Giả thử một ngàn năm sau, loài người tàn hại nhau đến diệt chủng. Tất cả các loài sinh vật trên mặt đất cũng v́ ô nhiễm mà chết hết, chỉ c̣n loài người máy sống sót mà thôi. Loài người máy trong khi đào xới các tầng địa chất để t́m hiểu quá khứ của trái đất khám phá ra hai "con vật" có chất liệu sắt giống ḿnh. Một con (A) có hai cánh và hai chân h́nh tṛn. Đây là chỉ dấu của con vật biết bay. C̣n con khác (B) có h́nh thù như một chiếc hộp. Đây là chỉ dấu của con vật nổi và di chuyển được trên mặt nước. Sau đó chúng t́m thấy được có con vật khác (C) cũng có cánh nhưng chân không phải là h́nh tṛn bằng cao-su mà cũng có h́nh hộp như con B. Con này vừa có chỉ dấu của con biết bay (A) và của con di chuyển trên mặt nước (B). Dựa vào điều t́m thấy này, loài người máy lập nên một thuyết tiến hóa cho rằng loài di chuyển trên mặt nước (B) nhờ vào một biến dị nào đó, từ từ mọc cánh để tiến hóa thành loài biết bay (A). Nhưng chúng không biết được rằng hơn một ngàn năm trước, con vật A được thiết kế để bay và đậu trên đất, gọi là máy bay; con vật B để chuyên chở trên nước, gọi là tàu; và con vật C được thiết kế để bay và đậu trên mặt nước, gọi là thủy phi cơ. Tuy con thủy phi cơ mang đủ tính chất của máy bay và tàu, nó không là sản phẩm của sự tiến hoá nào hết.

Để giải quyết vấn đề bế tắt này (tức là không t́m ra nhiều loài chuyển tiếp c̣n sống trong thiên nhiên và không t́m được nhiều di tích của chúng) Darwin đưa ra một lời giải thích như sau. Ông cho rằng tài liệu địa chất như là một cuốn sách lịch sử của thế giới không được bảo tŕ tốt; cho nên chử c̣n chử mất. Tệ hơn nữa cuốn lịch sữ này lại được viết bằng một ngôn ngữ hay thay đổi. Nó chỉ c̣n lại chương chót, liên quan đến vài quốc gia mà thôi, là c̣n nguyên. Đây đó c̣n sót lại một vài chương ngắn, một chương lại ch́ c̣n một vài trang, một trang chỉ c̣n lại một vài chữ đó đây, mà ư nghĩa của chử này lại thay đổi tiệm tiến qua từng chương. V́ vậy chúng ta nghĩ rằng cuốn sách này dường như là thay đổi đột ngột, nhưng thật sự nó mô tả cho sự thay đổi từ từ của lịch sử loài người. Khi viết lời này, Darwin so sánh một cách bóng gió lịch sử loài người với tài liệu địa tằng của các loài sinh vật, các chương, hàng, chử, v.v. của cuốn sách với các di tích khai quật, ngôn ngử viết sách với sự tiệm tiến của các loài, chương chót của cuốn sách với thế giới sinh vật hiện nay, các chương khác với thế giới sinh vật trước đây, v.v. 

Thật sự Darwin không dùng thực tế địa chất để chứng nghiệm cho lư thuyết của ông (v́ thực sự thực tế chứng nhiệm ngược lại) mà dùng lư thuyết mà ông đang thành lập, và cần chứng nghiệm, để biện hộ cho sự thiếu thốn trong hồ sơ địa chất. Như vậy thay v́ lư thuyết phải "đi theo" thực tế v́ lư thuyết phải được thực tế chứng nghiệm, thực tế của Darwin phải đi theo lư thuyết của ông. Để nắm rơ vần đề hơn, chúng ta hăy nghiên cứu một thí nghiệm tư tưởng như sau:

Có hai người hàng xóm sống cách nhau một con lạch hẹp (một mét). Ông A nói rằng ông có thể nhảy qua vườn ông B. Và ông A làm cho ông B xem trước mắt. Bây giờ con lạch này tự nhiên nới rộng ra hai mét. Ông A v́ tập luyện công phu cũng nhảy qua được. Bây giờ con lạch đó tự nhiên nới rộng bằng biển Thái B́nh Dương. Ấy vậy ông A vẫn khăng khăng là ḿnh nhảy qua được. Ông B hỏi tại sao, th́ ông A nói rằng: Trên con lạch này, có những trụ nổi cách nhau khoảng một mét, và ông A dùng bàn đạp để từ từ nhảy từng bước một qua bờ bên kia. Ông B hỏi vậy chứ các trụ nổi đó ở đâu không thấy. Ông A nói, khi tôi nhảy th́ nó hiện ra cho tôi bước lên, c̣n khi tôi nhảy xong rồi th́ nó biến mất không c̣n dấu tích ǵ! [5] Trong thí dụ này, con lạch một mét là sự khác biệt giữa các giống bồ câu; v́ hẹp nên bồ câu có thể thay đổi được, để thành ra nhiều giống khác, muôn màu, muôn sắc). Thái B́nh Dương là sự khác biệt giữa các loài trong thiên nhiên (như loài cá dưới biển và loài ḅ sát trên cạn. Sự thay đổi của con chó lông xù để trở thành con chó mực gọi là tiến hóa vi mô (vi là nhỏ). Sự tiến hóa của loài cá biển để thành loài ḅ sát trên cạn gọi là tiến hóa vĩ mô (vĩ là lớn). Sự chúng ta quan sát thấy có tiến hóa vi mô, không có nghĩa là chúng ta có thể ngoại suy là có tiến hóa vĩ mô. Trên b́nh diện nhỏ, cần có những du di để thiên nhiên có thể thay đổi để thêm phần phong phú. Tuy vậy, cũng cần có những luật cố định trên b́nh diện lớn để giềng mối của vũ trụ được bền vững không náo loạn. Thiên nhiên cho phép những biến dị nhỏ để con người có thể nuôi giống thành nhiều loại gia súc có màu sắc khác nhau. Nhưng thiên nhiên vẫn có luật di truyền cố định để giữ ǵn giềng mối của các loài. Từ trước đến giờ mặc dù có con chó lông xù, con chó mực, con chó cụt đuôi, v.v. nhưng con chó vẫn là con chó, con mèo vẫn là con mèo. Hai loài này không tiến hóa thành lẫn nhau, và cũng không tiến hoá đi đâu cả.  

Do đó, Thánh Kinh dạy rằng Đức Chúa Trời tạo dựng ra các loài, loài nào theo loài đó (Sáng Thế Kư chương 1, câu 12, 20-25). Lời dạy này là điều xảy ra trong thực tế trên b́nh diện vĩ mô.

 

 

                                            

 

 

PHỤ LỤC :

GỢI Ư SUY NIỆM TIN MỪNG CHÚA NHẬT II TN. A

Ga 1, 29 - 34   

 

ĐÂY LÀ CHIÊN THIÊN CHÚA


Phúc Âm thứ tư được soạn thảo như một phiên toà dài, nơi đó các nhân chứng lần lượt nối tiếp nhau để tuyên bố chính thức những ǵ họ biết về Chúa Giêsu, Ngôi Lời làm người, Ánh Sáng thế gian, Con Một Thiên Chúa, Vua Israel. Như vậy, ngay từ ngày đầu tiên của tuần lễ khai trương, Thánh Gioan Tẩy Giả đă trả lời với các thượng tế và luật sĩ được phái dến từ Giêrusalem : Ngài đă tuyên bố với họ rằng Ngài không phải là Đấng Thiên Sai. Ngày hôm sau đó, Ngài làm chứng trước mặt các môn đệ của Ngài, những kẻ đă sẵn sàng để tin : « Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian ». Những nhà chú giải không nhất trí với nhau về nghĩa chính xác của chữ nầy. Chúa Giêsu có phải là Con Chiên bị hiến tế trong lễ Vượt Qua, để tưởng niệm cuộc giải phóng khỏi Ai Cập chăng ? Người có phải là con chiên bị hiến tế và vinh thắng trong sách Khải Huyền (Kh 5,6 và 12) ? Người có phải là người tôi tớ trong Isaia, kẻ « không hé miệng như một con chiên bị đem đi giết » (Is 53,7) ? Hay là Người phải thay thế con chiên phải sát tế mỗi ngày trong Đến Thờ, để xóa tội lỗi cho dân ?

    Câu trả lời đúng nhất có lẽ là ở đức tin của các tín hữu tiên khởi, mà tiên vàn v́ họ Phúc Âm Thánh Gioan được dành cho. Họ không suy nghĩ nhiều về đau khổ và sự yếu đuối của con chiên cũng như về sự biểu thị nơi con chiên quyền năng của thiên Chúa Đấng Cứu Độ Israel. Bí Tích thánh Thể vơi họ là sự nhắc nhở lễ Vượt Qua mà từ nay cộng đoàn Kitô-huữu liên kết vào.

   Mỗi lần họ rước Ḿnh và Máu Chúa Kitô phục sinh, các tín hữu tiên khởi nh́n nhận « Con Chiên Thiên Chúa Đấng xoá tội trần gian ». Giống như họ, chúng ta t́m lại cùng ư nghĩa ấy trong sự hiệp lễ và những lời tán tụng : « Khi ăn bánh và uống chén nầy, chúng ta mừng mầu nhiệm đức tin ».

  Thế giới của chúng ta có một kinh nghiệm lâu dài về các mạc khải và sự giải phóng không ǵ khác hơn là chuyển vị trí những áp bức và bất công. Thế gian nầy đang khát một sự giải phóng sâu xa tận gốc rễ sự dữ. Cuối cùng đây là Đấng « cất » tội lỗi khỏi thế gian. Từ Hy Lạp được Thánh Gioan dùng ở đây, vừa có nghĩa « mang » theo nghĩa nhận lấy trên ḿnh tội lỗi, đồng thời có nghĩa là « đem đi » theo nghĩa cất khỏi, cất đi và thủ tiêu tội lỗi.

   Bằng hành động của Con Chiên, trần gian lâu dài bị thương tích v́ bất công và hận thù, sẽ biết được sự giải phóng đích thực : trần gian sẽ được phục hồi trong t́nh yêu của Chúa Cha.

Bernard Lafrenière, C.S.C

 

 

 

  PHỤ TRANG:

VIỆT-NAM 7 NGÀY QUA

 

+ (Hanoi Mới 08.01) Hà Nội: Tạm ngừng sử dụng vắcxin ngừa viêm gan B. Sở Y tế Hà Nội đă quyết định niêm phong và tạm ngừng sử dụng trên toàn thành phố lô vắcxin viêm gan B do hăng LG (Hàn Quốc) sản xuất, đă được dùng tiêm cho cháu Ngọc Minh ở Hà Nội, dẫn đến tử vong. Cục Quản lư Dược Việt Nam cho biết lô vắcxin viêm gan B bị đ́nh chỉ có kư hiệu UVX 06007, sản xuất ngày 28/12/2006 và hạn sử dụng 27/2/2009. Lô vắcxin này không phải là 2 lô vắcxin đă tiêm pḥng gây tử vong cho 4 cháu bé trong năm 2007.

+ (TTXVN 08.01)Việt Nam muốn học tập kinh nghiệm của Italia.Tại buổi tiếp đoàn Nhóm nghị sỹ hữu nghị Italia-Đông Nam Á trong Nhóm Liên minh Nghị viện Thế giới (IPU) của Nghị viện Italia, do ông Osvaldo Napoli, Chủ tịch Nhóm làm trưởng đoàn, Quốc hội Việt Nam bày tỏ mong muốn học tập kinh nghiệm của các nước phát triển, trong đó có Italia, đặc biệt là kinh nghiệm, kỹ năng lập pháp. Trong thời gian ở thăm Việt Nam từ ngày 4 đến 12.01, đoàn sẽ làm việc với một số cơ quan, ban, ngành, và làm việc với lănh đạo một số địa phương của Việt Nam.

+ (ThanhNien 08.01) Việt Nam tăng 14 bậc về chỉ số chính phủ điện tử. Theo đánh giá chỉ số sẵn sàng chính phủ điện tử (E-governance readiness) do LHQ công bố ngày 5.1, Việt Nam đă tăng 14 bậc trong bảng xếp hạng so với năm 2005, từ vị trí thứ 105 lên vị trí thứ 91. Trong khi đó, xếp hạng chung về chỉ số sẵn sàng chính phủ điện tử của châu Á đă tụt xuống với 0,447 điểm, thấp hơn mức trung b́nh của thế giới là 0,4514 điểm. Vị trí xếp hạng của một số nước như Ấn Độ, Xinhgapo và Thái Lan đă giảm mạnh. Ấn Độ tụt 26 bậc xuống vị trí 113, trong khi hai nước sau đều giảm 16 bậc trong bảng xếp hạng, lần lượt đứng ở vị trí thứ 23 và 62.

+ (Hanoi Mới 08.01) Dịch lở mồm long móng phát thêm tại Hà Tĩnh và Nghệ An. Theo Cục Thú y (Bộ NN&PTNT), ngày 6/1, dịch lở mồm long móng (LMLM) đă phát thêm tại hai tỉnh là Hà Tĩnh và Nghệ An. Như vậy, hiện nay, số tỉnh trên toàn quốc có dịch LMLM vẫn là Hà Tĩnh và Nghệ An.Về dịch cúm gia cầm, tỉnh Trà Vinh và Thái Nguyên vẫn chưa khống chế thành công dịch bệnh

+ (Nhân Dân 09.01) Việt Nam là nước chủ nhà Hội nghị cấp cao phụ nữ toàn cầu 2008. Chủ tịch hội nghị Cuộc họp hằng năm lần thứ 18 mang tên "Hội nghị cấp cao phụ nữ toàn cầu 2008", bà I.Natividath đă đến thăm Hà Nội và chính thức tuyên bố Việt Nam là nước chủ nhà của sự kiện này. Với chủ đề "Phụ nữ và châu Á: động lực của nền kinh tế toàn cầu", hội nghị năm nay sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 5 đến 7-6, dự kiến thu hút khoảng 1.000 đại biểu đến từ 100 quốc gia và vùng lănh thổ. Thủ tướng Chính phủ đă giao VCCI chủ tŕ phối hợp các bộ, ngành liên quan tổ chức hội nghị này. Trong khuôn khổ hội nghị, nước chủ nhà Việt Nam sẽ tổ chức nhiều hoạt động quan trọng nhằm giới thiệu Việt Nam, điểm đến tiềm năng để đầu tư và quảng bá đất nước, con người Việt Nam tới bạn bè quốc tế

+ (TTXVN 09.01) EVN kư hợp đồng mua điện lớn nhất với PetroVietnam. Hợp đồng mua bán điện lớn nhất từ trước đến nay về công suất, sản lượng điện giao nhận hàng năm và giá trị hợp đồng đă được kư giữa Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PetroVietnam) và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN). Theo hợp đồng được EVN và PetroVietnam kư tối 8/1, tại Hà Nội, EVN sẽ mua toàn bộ sản lượng điện từ nhà máy điện Cà Mau 1 và Cà Mau 2 do PetroVietnam đầu tư xây dựng. Nhà máy điện Cà Mau 1 và Cà Mau 2 có tổng mức đầu tư 12.600 tỷ đồng, tổng công suất thiết kế là 1.500MW (mỗi nhà máy là 750MW), sử dụng khí lấy từ lô PM3 CAA và lô 46-Cái Nước. Dự kiến năm 2008, Nhà máy điện Cà Mau 1 và 2 sẽ đưa lên lưới điện quốc gia khoảng 6,6 tỷ KWh, chiếm khoảng 8% sản lượng điện toàn quốc, góp phần giải toả căng thẳng v́ thiếu điện trong mùa khô. Từ năm 2009, Nhà máy điện Cà Mau 1 và 2 sẽ cung cấp ổn định cho lưới điện quốc gia khoảng 9 tỷ KWh, tức hơn 9% sản lượng điện toàn quốc và mỗi năm nhà máy sẽ tiêu thụ khoảng 1,8 tỷ m3 khí

+ (TTXVN 09.01) Khoảng cách giàu nghèo vẫn gia tăng. Kết quả so sánh 20% số hộ có mức thu nhập cao nhất với 20% số hộ có thu nhập thấp nhất th́ hệ số chênh lệch năm 2006 là 8,4 lần trong khi hệ số này 2004 là 8,3 lần và trước đó, năm 2002 là 8,1 lần. Cách biệt trong mức sống thể hiện rơ qua cơ cấu chi tiêu dân cư. Theo đó, chi tiêu đời sống của nhóm hộ giàu nhất cao gấp 4,54 lần nhóm hộ nghèo nhất, trong khi hệ số này năm 2004 và 2002 mới là 4,45 lần. Bên cạnh đó, sự cách biệt c̣n thể hiện rơ qua tỷ trọng chi tiêu cho ăn uống giữa các nhóm dân cư. Trong khi nhóm dân cư nghèo phải chi cho ăn uống đến hơn 50% thu nhập, th́ các nhóm khá và giàu chỉ chi xấp xỉ 44%.Nhóm những hộ giàu có điều kiện nhà ở, phương tiện đi lại, phương tiện sinh hoạt tốt hơn, đồng thời có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xă hội chất lượng cao hơn những hộ nghèo: Nhóm hộ giàu nhất có mức chi về nhà ở, điện nước, vệ sinh lớn gấp 8,8 lần; chi thiết bị đồ dùng gia đ́nh gấp 7,2 lần, chi giáo dục gấp 5,2 lần, chi bưu điện và đi lại gấp 12,l lần, chi văn hoá thể thao và giải trí gấp 69,8 lần so với nhóm hộ nghèo nhất.

+ (ThanhNien 10.01) Khởi động dự án đường cao tốc hiện đại nhất VN. Với việc bàn giao tiểu dự án giải phóng mặt bằng cho 2 địa phương, VEC đă chính thức khởi động xây dựng 55 km đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây hiện đại và đồng bộ nhất Việt Nam, có tổng mức đầu tư trong giai đoạn 1 lên tới 9.890 tỷ đồng. Đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây là một phần của hệ thống đường cao tốc Bắc-Nam. Trong giai đoạn 1, tuyến đường sẽ gồm 4 làn xe, chiều rộng nền đường 27,5 m, tốc độ thiết kế 120 km/h.

+ (VOV 08.01) Xâm hại t́nh dục trẻ em đă đến mức báo động. Xâm hại t́nh dục (XHTD) trẻ em hiện đang diễn ra nghiêm trọng và có xu hướng gia tăng. Trước đây, t́nh trạng này xảy ra chủ yếu ở những khu vực dân cư thưa thớt, hẻo lánh, tŕnh độ dân trí thấp; nhưng hiện nay ngày càng nhiều vụ xâm hại t́nh dục trẻ em được phát hiện ở các khu đô thị, thành phố lớn. Nạn nhân chủ yếu là các bé gái độ tuổi từ 12-16. Cá biệt có trường hợp nạn nhân mới chỉ vài tuổi. XHTD trẻ em gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển lành mạnh của trẻ. Các em thường rơi vào trạng thái hoảng loạn, sợ hăi, xấu hổ, sống mặc cảm, không muốn giao tiếp với mọi người… Với cảm giác bị khinh rẻ, cô lập nên các em thường cáu giận vô cớ, muốn tự tử, dễ bị lôi kéo vào tệ nạn xă hội như ma tuư, mại dâm. Theo Tổng cục Cảnh sát, trung b́nh hằng năm ở Việt Nam xảy ra khoảng 800 vụ xâm hại t́nh dục trẻ em, chiếm 50% tổng số vụ phạm tội xâm phạm trẻ em.

+ (NLĐ 11.01)  Các ngân hàng tăng lăi suất VNĐ. Ngày 9-1, Ngân hàng TMCP An B́nh (ABBANK) thông báo tăng lăi suất huy động VNĐ. Đây là lần tăng lăi suất đầu tiên trong năm 2008 và lần thứ 5 tính từ đầu năm 2007 của ABBANK.Từ ngày 10-1, Ngân hàng TMCP Đông Á (DAB) cũng tăng lăi suất tiết kiệm. Cụ thể, 1 tháng 0,65% (tăng 0,04% so với mức lăi suất cũ), kỳ hạn 2 tháng là 0,66% (lĩnh lăi hằng tháng), mức tăng cao nhất 0,05%; kỳ hạn 3 tháng lĩnh lăi cuối kỳ là 0,73%, kỳ hạn 6 tháng lĩnh lăi cuối kỳ 0,75%. Lăi suất cũng tăng đối với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: 12 tháng (0,79%), 18 tháng (0,74%) và 36 tháng (0,85%). Đặc biệt, lăi suất kỳ hạn 24 tháng là 0,84% (tăng 0,03%).

+ (TTXVN 11.01) Đại hội đồng Tổng hội Báptít Việt Nam Ân Điển Nam Phương. Hơn 400 đại biểu là mục sư, truyền đạo, trưởng điểm nhóm, tín đồ đến từ 12 tỉnh, thành phố đă tham dự Đại hội đồng Tổng hội Báptít Việt Nam Ân Điển Nam Phương lần thứ nhất, khai mạc sáng 10/1 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là Đại hội đồng đầu tiên của Tổng hội Báptít Việt Nam Ân Điển Nam Phương kể từ năm 1975 đến nay, được tiến hành sau một năm Hội thánh được Ban Tôn giáo Chính phủ cấp giấy chứng nhận đăng kư hoạt động tôn giáo.
Hệ phái Tin Lành Báptít vào Việt Nam từ năm 1959, tập trung tại những đô thị lớn. Đến nay hệ phái này có trên 5.000 tín đồ, sinh hoạt tại 90 điểm nhóm ở 12 tỉnh, thành phố trong cả nước.

+ (TTXVN 11.01) Hơn 800 trẻ em Việt Nam làm con nuôi tại Italia. Kể từ khi Việt Nam và Italia kư Hiệp định về việc tiếp nhận con nuôi vào năm 2004 đến hết năm 2007, đă có tổng cộng 821 trẻ em Việt Nam được các gia đ́nh Italia nhận nuôi.Theo thống kê của cơ quan tiếp nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi của Italia, riêng trong năm 2007 đă có 262 trẻ em Việt Nam được tiếp nhận làm con nuôi tại Italia, đứng thứ 5 về số lượng trẻ con nuôi trong số 44 nước có hiệp định về việc tiếp nhận con nuôi với Italia.

+ (TuoiTre 12.01) Đại học VN chưa có trong bảng xếp hạng. Báo cáo về chất lượng giáo dục đại học (ĐH) VN mới công bố của Bộ Giáo dục - đào tạo cho biết: giáo dục ĐH VN chưa có vị trí trong bảng xếp hạng các trường ĐH hàng đầu thế giới. Kết quả xếp hạng "100 trường ĐH hàng đầu khu vực Đông Nam Á" của Webometrics năm 2007 cho thấy: Thái Lan có 41 trường, Myanmar 18 trường, Indonesia 14 trường, Philippines 13 trường, Singapore và VN: bảy trường. C̣n nếu xét trên phạm vi toàn thế giới th́ Webometrics chỉ công nhận bảy trường ĐH của VN với các vị trí xếp hạng như sau: ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM xếp thứ 28 trong ASEAN và thứ 1.920 thế giới; ĐH Công nghệ TP.HCM với vị trí tương ứng là 36 và 2.190; ĐH Cần Thơ: 47 và 2.532; ĐH Quốc gia Hà Nội: 54 và 2.850; ĐH Bách khoa Hà Nội: 62 và 3.156; ĐH Công nghệ: 90 và 4.217; ĐH Quốc gia TP.HCM: 96 và 4.462. Trong nhiều bảng xếp hạng giáo dục ĐH của các tổ chức uy tín khác như: tạp chí Times Higher Education Supplement (THES) năm 2007 trong tốp "200 trường ĐH hàng đầu thế giới" th́ VN  chưa có.

+ (TuoiTre 12.01)  Gần 20% đối tượng nạo hút thai là trẻ vị thành niên. Trong số 150 trẻ ở độ tuổi vị thành niên đến nạo hút thai tại Bệnh viện Hùng Vương từ ngày 2-5 đến 1-6-2007, có đến 17% trẻ cho rằng nạo hút thai là b́nh thường. Phần lớn đối tượng đến nạo hút thai là công nhân, học sinh sinh viên có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, chủ yếu ở trọ... Nghiên cứu này cho biết VN là nước đứng hàng thứ ba thế giới về tỉ lệ nạo hút thai với 1,5 triệu ca mỗi năm, trong đó 20% đối tượng c̣n ở độ tuổi vị thành niên.

+ (Dân Trí 12.01) Giáo dục giới tính bằng phim t́nh huống. Ngôi nhà Tuổi trẻ vừa hoàn thành loạt phim t́nh huống tài liệu truyền thông cho Dự án Mô h́nh chăm sóc sức khoẻ sinh sản vị thanh niên/thanh niên do Ngân hàng Tái thiết Đức tài trợ.Loạt phim này đề cập đến 5 nội dung: 1). Chung sống trước hôn nhân (cho nhóm thanh niên sống xa gia đ́nh).      2).Nguy cơ và các hành vi xâm hại/quấy rối t́nh dục (cho nhóm vị thành niên). 3). Bạo lực trong t́nh yêu và vấn đề b́nh đẳng giới/trách nhiệm của nam - nữ trong các vấn đề SKSS.   4).T́nh bạn và t́nh yêu tuổi học tṛ (ranh giới của t́nh bạn khác giới, giá trị, t́nh yêu tuổi học tṛ).    5).Kỳ thị và phân biệt đối xử với người có HIV.

[Hiện các CD phim t́nh huống đă được gửi về các địa phương tham gia vào dự án là Long An, TPHCM, Quảng B́nh, Hà Tây, Hà Nội và Quảng Ninh. Phim sẽ được chiếu trong các chương tŕnh truyền thông để làm t́nh huống mở đầu thảo luận, sau đó các giáo dục viên - đồng đẳng viên sẽ hướng dẫn các bạn thanh thiếu niên thảo luận theo t́nh huống và các câu hỏi mà phim đặt ra, từ đó tự nâng cao kiến thức cho ḿnh. VTV6 cũng đang có kế hoạch phát sóng loạt phim này trong thời gian tới. Các tổ chức, đơn vị và cá nhân có nhu cầu in sao hoặc tiếp cận các CD phim có thể liên hệ với Ngôi nhà Tuổi trẻ qua trang web: www.gioitinhtuoiteen.org.vn (Email: gioitinh_tuoiteen@yahoo.com; Điện thoại: 04.554 0155)]

+ (TuoiTre Cuoi Tuan 13.01)  Chênh lệch  giữa hai mức tiền thưởng Tết năm nay là : 3 tỷ VNĐ và 50.000, tức là cách nhau 60.000 lần (sáu mươi ngàn lần): con số đầu là cho những trường hợp đặc biệt ở Tập Đoàn qũy Đầu Tư Sàig̣n; con số sau là cho giáo viên mầm non Quận I Sàig̣n (nguồn: VnExpress 09.01.2008)

+ (TTXVN 13.01) 952 triệu USD xây Khu đô thị công nghệ FPT Đà Nẵng . Uỷ ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng và Tập đoàn FPT đă kư kết thoả thuận đầu tư dự án Khu đô thị công nghệ FPT Đà Nẵng tại quận Ngũ Hành Sơn với tổng vốn đầu tư 952 triệu USD. Trên diện tích 181ha, Khu đô thị công nghệ FPT Đà Nẵng gồm các công tŕnh: Đại học FPT, khu phần mềm, khu nhà ở dành cho cán bộ nhân viên; đất dành cho giao thông, sinh thái và các dịch vụ công cộng. Dự án dự kiến khởi động trong năm 2008 và hoàn thành giữa năm 2012

+ (HaNoi Mới 13.01) Trẻ sinh tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội tăng đột biến. Năm 2007, số trẻ ra đời tại Bệnh viện Phụ sản tăng đột biến với 24.000 trẻ, nhiều hơn năm trước 6.000 bé. Nguyên nhân dẫn đến t́nh trạng trên là do tâm lư của người dân thích sinh con vào năm Đinh Hợi, thậm chí có những sản phụ c̣n muốn mổ đẻ để sinh dù thai chưa đủ ngày, đủ tháng. Dự kiến trong năm 2008, số trẻ em ra đời tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội vẫn không giảm

+ (NLĐ 13.01) 470.000 lao động VN đang làm việc ở nước ngoài. Theo thông tin tại hội thảo, hiện có khoảng 470.000 lao động VN đang làm việc ở 40 nước và vùng lănh thổ. Mục tiêu đến 2015, sẽ có khoảng 1 triệu lao động VN làm việc ở nước ngoài. Bản thân họ cũng thuộc nhóm dễ bị bóc lột và phân biệt đối xử nhất. Tuy vậy, tỉ lệ lao động VN bỏ trốn cũng khá cao.

+ (TTXVN 14.01) Cả nước có thêm 449 giáo sư và phó giáo sư. Lễ công bố quyết định và trao giấy chứng nhận chức danh cho 54 giáo sư và 445 phó giáo sư năm 2007 đă diễn ra tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám Hà Nội ngày 12.1. Hội đồng Chức danh Giáo sư cho biết năm 2007 có 499 người được công nhận chức danh giáo sư và phó giáo sư trong tổng số 774 hồ sơ đề nghị từ các cơ sở giáo dục, trong đó có hơn 70% là các giảng viên các trường đại học và học viện, lứa tuổi trung b́nh từ 50 - 60 tuổi; 20% là nữ. Giáo sư Đặng Văn Soa, chuyên ngành Vật lư của Đại học Sư phạm Hà Nội là giáo sư trẻ tuổi nhất (46 tuổi).