QUAN NIỆM TÔNG ĐỒ LINH MỤC Theo Cha Chevrier
Ngày 28 tháng Tư 2009, 5:00 PM


Đọc tiếp
1- Quan niệm Tông đồ Linh Mục theo cha Chevrier -Phần 1

2 - Quan niệm Tông đồ Linh Mục theo cha Chevrier -Phần 2

Phỏng dịch “Apostolat Sacerdotal”
Của Đức Giám mục A. Ancel

Imprimatur
Xuân Lộc, ngày 14 -09-1971
+ Giuse Lê Văn Ấn
Giám mục


 


Phần Một


 

Quan niệm tông đồ của cha Chevrier được lọc qua những trang sách Phúc âm Chúa Giêsu và các thư thánh Phaolô. Những nguyên tắc tông đồ này có một tính cách rất bất biến mặc dầu những biến cố xảy ra trong mỗi thời đại, trong mỗi lănh vực và nơi mỗi cá nhân. “Trời đất sẽ qua, Chúa phán, nhưng lời Ta sẽ không qua” (Mt 13,31).

Chúng ta sẽ nói về quan niệm rồi đến phương pháp tông đồ.

 

I- THẾ NÀO LÀ TÔNG ĐỒ ĐÍCH THỰC?

 

1. Tông đồ đích thực là người say mê Chúa Kitô

Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa đă minh chứng cho nhân loại rơ tấm ḷng Người yêu họ tha thiết khi Người hiến thân chịu chết thay cho họ. Mà t́nh yêu của Người đối với nhân loại là t́nh yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Cho nên Người cũng muốn cho các tông đồ của Người kín múc lấy t́nh yêu các linh hồn trong t́nh yêu mến Người. Đúng thế, khi muốn trao phó cho thánh Pherô nhiệm vụ cai trị Giáo Hội, Chúa Giêsu không nói: “Con có yêu người ta không?” nhưng Người hỏi: “Phêrô con có mến Thầy không?” Chúa Giêsu phải chiếm chỗ nhất trong trái tim ta. Thánh Phaolô đă chứng minh chân lư đó trong các thư của Ngài và bằng chính đời sống của Ngài. Ngài đă muốn chết để được ở cùng Chúa Giêsu, nhưng Ngài lại vui ḷng ở lại thế gian, xa Thầy chí thánh, để hoàn thành sứ mạng Thầy ủy thác. Ngài yêu mọi người trong Chúa Kitô và chính ḷng mến Chúa Kitô thúc đẩy Ngài tận hiến để giải thoát người đời.

Cha Chevrier đă tự nghiệm thấy cái hiệu lực của ḷng mến Chúa Kitô, cái ḷng mến đưa người ta đến tự hiến hoàn toàn.

Cha nói: “Chính đêm Giáng Sinh đă hoán cải tôi” (Vie Nouvelle trang 76). Nói về vị linh mục muốn làm môn đệ Chúa Giêsu, cha diễn tả thế này: “Chính t́nh yêu hướng dẫn vị linh mục ấy chứ không phải ǵ khác”. (Véritable Disciple trang 93).

Bởi vậy cha chú trọng trước hết đến việc học hỏi về Chúa Kitô và dùng làm khoa học căn bản để đào tạo các linh mục tương lai ở tiểu chủng viện cũng như đại chủng viện. Cha nói: “Biết Chúa Giêsu là đủ, không khoa học nào hơn được khoa này. Nó là khoa bổ ích nhất, quan trọng nhất, cần thiết nhất, đặc biệt là cho những ai muốn làm linh mục, muốn làm môn đệ Chúa, v́ chỉ khoa học này mới là khoa học chính đào tạo nên các linh mục, và các khoa khác chỉ là tùy phụ và có hữu ích th́ cũng tùy hoàn cảnh.” (VD, 78) Chính đời sống thánh Phao-lô đă minh xác câu nói của cha: “v́ yêu mến, tôi đă muốn mất hết, coi mọi sự như rơm rác để được Chúa Kitô… để biết Người, Người và hiệu quả việc Phục sinh của Người… để tham dự vào những đau khổ của Người, cùng chết với Người để cùng được sống lại với Người, nếu có thể”. (Phil 3,8-10).

V́ thế yêu Chúa Kitô trên hết không phải chỉ là việc riêng của người chiêm niệm, không phải chỉ là đường tu của các tu sĩ. Nó là đặc điểm của tất cả đời sống siêu nhiên của một linh mục.

Tuy nhiên, chúng ta biết rằng yêu Chúa Kitô không phải chỉ là suy tôn Người trong lư thuyết, nhưng t́nh yêu ấy c̣n phải là nguyên nhân và nguyên ủy của t́nh yêu đồng loại nữa. Có do t́nh mến Chúa Kitô như thế th́ việc tông đồ mới thực là của riêng linh mục. Bởi v́ người ta quan niệm rằng người giáo hữu khó có thể đạt tới mưc yêu mến ấy được. Thường thường trong việc tông đồ, người giáo hữu vui ḷng siêu nhiên hóa và quy hướng về Chúa ḷng ao ước thiết tha của họ, ḷng ao ước đem anh em ra khỏi t́nh trạng khốn nạn về tinh thần cũng như thể chất. Các chủng sinh ban đầu thường cũng đi một lối ấy. Họ bắt đầu khát vọng làm tông đồ, tuy khát vọng ấy ta thấy chưa khuynh hướng về Chúa Kitô cho đủ. Nhưng rồi ra, họ cần phải cải biến dần dần những lư do khiến họ tận tâm với công cuộc giải thoát các linh hồn, để ngày chịu chức họ đáng được nghe lời Chúa phán: “Bây giờ Ta không gọi các con là đầy tớ nữa, nhưng là bạn của Ta.” (Gn 15,15).

Trọn đời, vị linh mục phải gắng sức học biết và yêu mến Chúa Kitô cho đến khi t́nh mến này biến thành một đam mê. Ta hăy nghe cha Chevrier diễn tả lư tưởng của cha: “Có những người sống v́ thế gian. Tôi th́ tôi sống v́ Chúa Giêsu… Chúa Giêsu phải là lẽ sống của ta, nghĩa là Chúa Giêsu phải là Đấng mà thường xuyên ta tưởng nghĩ tới và ngày đêm t́nh yêu mến và ḷng khát khao của ta phải hướng về. Người mẹ sống v́ con, người vợ sống v́ chồng và người hà tiện sống v́ tiền bạc, người ích kỷ sống cho ḿnh… Đó là đời sống của mỗi người ấy, họ đặt đời họ vào cái họ t́m, họ yêu… Phần ta, lẽ sống của ta chính là Chúa Giêsu. (VD. Trang 83).

 

2. Tông đồ đích thực là người tiêu biến trong Chúa Giêsu

Thực t́nh yêu nhau không phải chỉ là ư hiệp tâm đầu nhưng c̣n cần phải chung sống. Biết nhau rồi người ta đem ḷng yêu mến nhau. Rồi từ yêu mến nhau đến bắt chước nhau. Cha Chevrier nói: «Khi thực t́nh yêu ai th́ người ta sung sướng được theo người ấy, bước theo vết chân người ấy, thích nh́n xem, nghe họ nói và làm hết cách để bắt chước… Bắt chước Chúa Giêsu đó là mục đích duy nhất của tôi, cùng đích của mọi tư tưởng và hành động của tôi, đối tượng của tất cả những nguyện vọng của tôi. Không thế, tôi sẽ không bao giờ là một linh mục tốt và sẽ không bao giờ làm việc đắc lực cho phần rỗi các linh hồn.» (VD. Trang 8a và 67).

Theo cha, việc bắt chước Chúa Giêsu là bổn phận trước hết của linh mục: «Chúa Giêsu, cha nói, là linh mục đích thực, là linh mục hoàn hảo, là Đấng Đức Chúa Cha yêu dấu, và là gương mẫu ta phải noi theo. Bổn phận của ta là phải bắt chước Người.» Ta hăy nghe giọng nghiêm khắc cha nói về những linh mục chỉ muốn tham dự quyền hành của Chúa Giêsu mà không nên giống Người bằng đời sống của ḿnh: «Ai chỉ giống Chúa Giêsu về quyền hành th́ có khác ǵ con người máy vô ích, không sinh lợi? Họ chỉ đường cho người khác mà chính ḿnh không đi, cứu người khác mà không tự cứu. Họ là cột chỉ đường mà chữ viết ở trên thường đă phai nḥa, họ là năo bạt kêu vang, họ là con sông chảy cuồn cuộn mà không giữ lại được ǵ hết.» (VD. Trang 68).

Nhưng phải đồng hóa với Chúa Giêsu đến mức nào?

Tuy không kết án những phương pháp cổ truyền đào tạo các linh mục, tuy không phải là nhà canh tân v́ không bao giờ cha có tham vọng cải tạo hàng giáo sĩ, nhưng cha mở một con đường, con đường đồng hóa với Chúa Giêsu căn cứ vào việc tuân giữ hết sức chặt chẽ những giới răn và khuyên dụ của Phúc âm. Con đường này không mới mẻ ǵ, nó chỉ là con đường cũ, con đường hẹp đưa đến phúc trường sinh. (Mt 7,14). Thời nào cũng có những tâm hồn quảng đại bước theo con đường ấy th́ sao các linh mục triều lại không theo con đường ấy? Cha nói: «Những thầy ḍng tuân giữ những khuyên dụ của Phúc âm, sao các linh mục triều lại không tuân giữ?» (VD trang 83).

Điểm cha Chervier có ư nhấn mạnh ở đây là các linh mục phải sống thân mật với Chúa Giêsu hơn ai hết kể các các tu sĩ: «Các linh mục là những người sống giữa đời và là những người phải gieo rắc khắp nơi hương thơm Chúa Giêsu, và các ngài phải là ánh sáng lung linh soi chiếu mọi tấm ḷng. Các tu sĩ ở trong bốn bức tường, nhưng linh mục th́ sống giữa dân chúng, ngài phải thánh thiện và hoàn toàn hơn ai hết» (VD trang 88).

Như thế, cha không chỉ trích con đường chung, con đường của phần đông. Không ai đă từng nghe cha chỉ trích một linh mục… Cha cũng không có ư so sánh hoặc có ư xếp hạng cho linh mục triều hơn linh mục ḍng. Cha vẫn có những bạn thân trong các tu sĩ và vị huấn đức của cha là cha Bruno, linh mục ḍng thánh Phanxicô. Nhưng cha có ư nhắc nhở các linh mục triều rằng đường trọn lành là đường của các ngài cũng như của ai khác. Hơn nữa, các ngài lại có nhiều lư do thúc đẩy ḿnh tiến theo con đường ấy hơn các tu sĩ. Cha kết luận đơn sơ rằng: «Phải dùng ơn Chúa mà sinh lợi và đừng đoán xét ai» (VD trang 88). Chỉ có thế, cha thân thưa với Chúa: «Lạy Chúa, con sẽ theo Chúa mọi nơi Chúa đi. Con sẵn sàng chết với Chúa. Con sẽ biến đời con để làm vinh danh Chúa. Con sẽ vào tù, sẽ liều chết. Chúa là vua, là chủ, là thày con. Lạy Chúa, nếu Chúa cần một người nghèo khó th́ có con đây… Con đây, con sẵn ḷng làm theo ư Chúa. Con là của Chúa» (VD trang 89).

Đối với cha Chevrier, những lời trên đây phát xuất không phải do cảm xúc nhất thời, nhưng là do chính đời sống thấm nhuần tinh thần tận hiến. Đời cha, cha những lo sao phô diễn được h́nh ảnh đích thực của Chúa Giêsu và tuân theo một cách hoàn toàn tất cả những giới luật cũng như những khuyến dụ của Người.

 

3. Tông đồ đích thực là người biết sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh.

Một khi đă kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu do sự học biết, yêu mến, và bắt chước vị linh mục được tham dự đầy đủ vào chức linh mục của Chúa Giêsu: Ngài có thể làm công việc của Chúa. Nhưng để làm công việc của Chúa, linh mục phải hoàn toàn tùy thuộc Chúa Thánh Linh. Ngài phải là dụng cụ trong tay Thiên Chúa.

Vấn đề này cha Chevrier đă đặt ra mấy công thức: «Việc Chúa th́ Chúa làm chứ không phải ta. Không phải có tiền tài, không phải do toan tính, cũng không phải do sự sắp đặt của ta mà những việc đó được thực hiện, chính Chúa dùng một linh hồn mà hoàn thành công cuộc của Người. Người sử dụng một linh hồn như ta sử dụng một đồ dùng. Người cũng chọn những linh hồn khác nữa rồi tập hợp lại. Rồi một lúc nào thuận tiện vừa ư Người, ơn thánh sẽ nảy nở; c̣n chúng ta, chúng ta chỉ là những máng chuyển không hơn không kém, bởi v́ con người là không» (L’Esprit et les vertus trang 346-347).

Cha nói như thế là nói theo kinh nghiệm bản thân: «Phải để Chúa hành động, ta hăy chỉ là dụng cụ của Chúa. Thật thế, cái ǵ mà tôi đă muốn làm lấy th́ rồi ra tôi cũng đến phải phá hủy đi» (EV, trang 237).

Trong công cuộc tông đồ, cần phải tùy thuộc ở Chúa Thánh Linh. Có thế mới chắc chắn dung ḥa được hai điểm đối lập: vừa vâng lời tuyệt đối, vừa giữ được tự do sáng kiến.

Cha Chevrier không phải là người nhát gan. Thực thế, cha dùng thời giờ cần thiết để cầu nguyện, cân nhắc và xin ơn soi sáng, nhưng một khi đă xác tín rằng công cuộc định liệu do thánh ư Chúa th́ cha nhất định hành động, không ǵ cản lại được.

Đây là lối cư xử mà cha vạch ra cho các linh mục tương lai của cha: «Phải suy nghĩ nhiều, cầu nguyện nhiều trước khi toan tính một việc, để xét xem có phải bởi Chúa, cho Chúa, v́ vinh danh Chúa và lợi ích các linh hồn không. Một khi đă toan tính xong, th́ không nên ngừng lại trước những thứ thách và đau khổ, hoặc trước những lời dị nghị: Phải chiến đấu can trường với mọi trở lực đồng thời phải trông cậy vào Chúa».

V́ biết tùy thuộc Chúa như thế nên cha thoát khỏi mọi g̣ bó xă hội: cha không tùy thuộc ai hết. Cha nói: «Nhiều người cho rằng không thể thi hành giáo lư phúc âm, rằng Phúc âm nói quá, Phúc âm là ảo tưởng, là cái ǵ thuộc thế giới khác. Thế nên, nhiều người chống lại tinh thần Chúa và đôi khi chống lại tinh thần những vị linh mục thánh thiện. Người ta thích bám lấy lối sống quen thuộc, máy móc và tầm thường. Người ta không ưa bị bách hại mà chỉ mong được yên thân» (VD.trang 200). Thế nên cha phản kháng: «Đời nghĩ thế nào th́ nghĩ, có hệ ǵ. Họ coi tôi như người điên cũng không sao, tôi thuộc về Chúa Giêsu. Tôi theo Người, tôi bước theo vết Người. Qui pie volunt vivere in Christo Jesu persecutionem patientur» (VD trang 81).

Cuốn «Véritable Disciple» cho ta thấy rơ hơn giá trị siêu nhiên và giá trị tông đồ của đức khó khăn thật. Nó cũng giúp ta hiểu rơ hơn rằng một linh mục mà sống đời sống hoàn toàn theo Phúc âm th́ thật là điều thích hợp. Cha Chevrier đă biết nh́n trước v́ cha biết nh́n những điều đó trong Chúa Giêsu, theo lối nh́n của Chúa Giêsu.

Tuy nhiên, dù có những ư kiến hay, thích thời, những ư tưởng mà cha hằng cổ vơ, cha cũng không bao giờ tự tiện thực hiện v́ cha rất dễ vâng lời. Cha muốn hoàn toàn phù hợp với Chúa Thánh Linh và vâng lời các đấng bề trên v́ quyền bính các ngài đều do Chúa mà có. Cha nói: «Ai có Thánh Thần Chúa th́ không nói ǵ tự ư ḿnh… cũng không để ḿnh bị khoa học, bị lư luận lôi cuốn, nhưng lại bằng ḷng nhận sự hướng dẫn của đức tin và Chúa Thánh Linh hành động trong ḿnh» (VD trang 198). Cha c̣n nói: «Chúa Giêsu và Giáo hội là hai nền tảng mà nếu ta dựa vào th́ bước đi bao giờ cũng chắc chắn, mặc dầu có gặp những trở ngại, những chiến đấu và bách hại» (Vd trang 200). V́ thế, toan tính việc gi cha cũng tŕnh bày với Đức Tổng Giám mục Lyon, rồi hoàn toàn phục quyền ngài. Chẳng những cha không muốn cưỡng lại ư ngài, và cha cũng không làm việc ǵ mà không được ngài thỏa thuận trước. Đây, nguyên tắc của cha: «Ai làm công việc ǵ, dù là việc tốt đi nữa, mà nếu không được bề trên cho phép, kiểm duyệt, ưng thuận th́ sẽ chẳng thu được lợi ích ǵ».

Hẳn có người bảo: nhưng tông đồ hăng hái mà dễ vâng lời như thế th́ chắc Giáo hội chẳng trông lợi dụng được những điều cải tiến mà các ngài có thể sáng nghĩ ra. Điều đó dễ trả lời: linh mục không phải mang trách nhiệm về Giáo hội. Trách nhiệm này về phần các Giám mục là những vị đă được Chúa Thánh Linh đặt lên cai quản Giáo hội Chúa (Act 20,8). Cha Chevrier viết: «Khi Chúa muốn sự ǵ, Người biết uốn ḷng đấng Bề trên ban cho ta sự ấy trong lúc hữu ích: phải cầu nguyện và phải biết đợi chờ» (VD trang 353). Vậy không nên chiếm đoạt địa vị của Chúa: chúng ta chỉ là những dụng cụ. Than ôi, ta không có đức tin đủ.

 

4. Tông đồ đích thực là người biết yêu các linh hồn

Ta không yêu các linh hồn cho đủ v́ ta không mến Chúa đủ. Người ta lao ḿnh vào công cuộc tông đồ với một ḷng hăng hái sặc mùi nhân loại. Nhất là khi người ta c̣n trẻ. Người ta không yêu đồng loại «bằng tấm ḷng của chúa Giêsu Kitô. Có khi ghen tương, chấp vặt và có khi chính ḷng nhiệt thành vô độ cũng xô đến làm hư hỏng tấm ḷng của vị tông đồ; thậm chí có khi bằng một cách nào đấy, người ta đă quên người để chỉ lo đến việc. Những cái ngộ nghĩnh này có lẽ cũng không bao nhiêu nhưng rất đau ḷng: đă có những vị Giám đốc Hội đoàn, những vị tuyên úy Phong trào Công giáo Tiến hành tách biệt nhi đồng, thiếu niên, thanh niên để cho «nó» tiến. Nhưng chúa Giêsu không chịu chết v́ «nó»: Người đến để t́m kiếm chiên lạc, để cứu các tội nhân.

Cha Chevrier đă chỉ cho ta thấy những nguy hiểm của t́nh yêu tự nhiên (VD trang 218) và cha đă chứng minh qua giáo lư và đời sống của cha rằng ḷng yêu các linh hồn càng liên kết với ḷng mến Chúa như với nguồn mạch và nền tảng của nó bao nhiêu th́ t́nh yêu ấy càng trong sạch và mănh liệt bấy nhiêu.

Chúng tôi sẽ nhấn mạnh về các ảnh hưởng mà ḷng yêu các linh hồn lĩnh nhận được khi ḷng yêu ấy bắt nguồn ở t́nh mến chúa. Có lẽ có người lo rằng t́nh yêu ấy không được thực tế lắm. Đây là vài kiểu nói mạnh mẽ của cha Chevrier sẽ giải đáp cho họ. Cha nói với những linh mục đầu tiên của Cha: «Tôi đă tiêu hao cho công việc, đến lượt anh em, anh em cũng phải tiêu hao như thế» (EV trang 172). Quả thực ai mến Chúa th́ cũng yêu các linh hồn và tất nhiên là tận tụy làm việc để đưa họ đến hạnh phúc đời đời. V́ thế cha không thể hiểu được rằng một linh mục lại có thể làm mất th́ giờ: «Linh mục, cha nói, hơn ai hết, phải làm việc suốt ngày. Nào chẳng phải v́ linh mục đă không làm việc hay làm không tử tế mà đồng ruộng Cha ta xấu kém, mà các thợ của ta dốt nát mà ngày nay họ đứng lên chống đối ta đấy ư?» (VD trang 159). Cha c̣n nói: «Nhà Chúa cháy mà người ta cứ thản nhiên đùa cợt. Thực đáng khóc con cái đ̣i bánh mà không có ai để bẻ bánh cho chúng» (EV trang 158). Từ tiểu chủng viện, cha đă tập cho các linh mục tương lai của cha biết làm việc tông đồ. Dĩ nhiên là mọi sự đều quy về biết, yêu và sống theo Chúa. Nhưng sống theo Chúa thế nào được nếu người ta không yêu các linh hồn theo lối Chúa yêu? Một cựu sinh viên thấm nhuần tư tưởng của cha đă đưa ra một nhận xét: Sống mà không yêu các linh hồn theo lối Chúa yêu là lối sống vô ích và có khi c̣n là một tội ác trước mặt Chúa Giêsu là Đấng luôn luôn tha thiết yêu các linh hồn, là Đấng luôn luôn mời gọi chúng ta sống theo ḷng nhiệt thành của Người (EV trang 185).

Trên đây, ta đă vạch rơ những đặc điểm của vị tông đồ. Là môn đệ và là bạn thân của Chúa Kitô, vị tông đồ trở nên giống Chúa và do sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh, ngài tiêu hao cho các linh hồn được giải thoát. Bức họa này không hoàn toàn, nhưng thiết tưởng cũng đă ghi được những nét chính để chúng ta có thể nhận thấy rằng: đường của các linh mục triều khác xa đường tu của các linh mục ḍng chuyên việc ngợi khen Chúa trong bốn bức tường, nó cũng khác xa đường tu của người tín hữu. Song song với sự kiện Chúa Kitô, ánh sáng vinh hiển của Đức Chúa Cha, đă nghiêng ḿnh xuống những nỗi khốn nạn của nhân loại, đường tu của linh mục triều được là nối kết và đồng hóa hai h́nh thức kia. Nhưng quy hướng về Chúa Giêsu và trong Chúa Giêsu, nó thấy hết và muốn thực hiện tất cả những ǵ Chúa Giêsu đă thực hiện và chỉ những ǵ Người đă thực hiện.

Phần tôi, lẽ sống của tôi là Chúa Kitô.

 

II- PHƯƠNG PHÁP TÔNG ĐỒ

Quy luật của đời tông đồ linh mục đă ghi chép rơ ràng trong đời sống Chúa Giêsu. Linh mục càng trở nên thứ ngă Chúa Kitô th́ càng là tông đồ hoàn hảo. Càng in hệt phương pháp Chúa Kitô, phương pháp tông đồ ấy càng đem lại nhiều mỹ quả.

 

1. Chức vụ hoàn toàn siêu nhiên

Cha Chevrier đă nh́n vào Chúa Giêsu để t́m ra phương pháp của Chúa, và đây là kết quả công việc học hỏi của Cha: «Trong việc thiết lập Giáo hội, một công cuộc lớn lao nhất của Chúa ṭan năng, một công cuộc đẹp đẽ nhất trên đời, Chúa không dùng một phương thế nào bề ngoài. Người dùng một người mà thông ban sức sống và tinh thần của Người cho. Người chọn mười hai người mà uốn nắn theo nếp sống Phúc âm. Tuy uốn nắn họ mà Người vẫn không phải giam hăm họ trong trại hay bắt họ bước theo bước Người đă tập cho: Người không lập quỹ, không dùng âm nhạc, không dùng những buổi ḥa nhạc, những buổi diễn kịch, chiếu bóng. Trái lại, Người cấm họ dùng bất cứ phương thế nào bề ngoài» (VD trang 188). Cha c̣n nói: «Nếu những cái bề ngoài này có cần th́ hẳn Chúa đă dùng. Nhưng không, Người đă hất đi hết» (VD trang 263).

Các tông đồ đă hiểu rơ giáo huấn của Chúa khi các ngài truyền chức phụ tế cho một số người đă được tuyển lựa. Sách Công vụ chép: «Thấy rằng săn sóc cho những kẻ nghèo khó là một việc quá bận và chiếm mất nhiều thời giờ mà theo lẽ chỉ nên dùng cho việc thiêng liêng, nên các ngài đă đặt các phụ tế để săn sóc những kẻ khó nghèo, c̣n các ngài th́ giữ lấy cho ḿnh nhiệm vụ cầu nguyện, giảng dạy và coi đó như mối bận tâm chính và duy nhất: Nos vero orationi et ministerio verbi instantes erimus» (VD trang 274)

Rồi cha đơn giản kết luận: «Phải bỏ những việc bên ngoài để chỉ chuyên lo việc Chúa» (VD trang 202).

«Những việc bên ngoài» là những việc nào?

- Thời các tông đồ th́ đó là việc phục vụ kẻ nghèo khó, thời cha Chevrier th́ đó là việc xây cất các thánh đường và những hệ thống giáo dục quá thiên về h́nh thức mà người ta hết lời ca tụng và sau này là những Hội đoàn; ngày nay th́ những việc bên ngoài là tất cả kỹ thuật tông đồ.

Đối với cái ǵ bên ngoài, cha Chevrier tỏ ra rất nghiêm khắc. Chẳng hạn cha nói: «Không nên bận tâm về những việc đời… nên để nó cho giáo dân, các linh mục không nên nhúng tay vào. Nên dùng những giáo hữu tốt để lo những công việc như thế…» (VD trang 274).

Ta nên hiểu rằng cha nói như thế là có ư lo cho linh mục biết làm tṛn chức vụ hoàn toàn siêu nhiên của ḿnh. Đành rằng trong thực tế không thể hoàn toàn gác bỏ những việc đời và ngay trong những việc bên ngoài ta có thể phân biệt nhiều mức độ khác nhau, từ những việc đời đúng nghĩa (như mối lái, xây cất nhà cửa…) cho đến kỹ thuật tông đồ. Chính cha trong lúc cần phải làm nhiệm vụ không siêu nhiên và không t́m được người giáo hữu nào giúp đỡ th́ cha cũng không ngần ngại tra tay làm lấy. Nhưng làm như thế chỉ v́ cần thiết cho mục đích của cha vẫn c̣n nguyên vẹn siêu nhiên (VD trang 225).

Linh mục có một mối nguy hiểm lớn là quá lo đến những việc bên ngoai. Ngài tưởng ḿnh đă tận tâm làm v́ ngài bận rộn nhiều; ngài tưởng ngài làm nhiều v́ ngài luôn luôn lo hoàn mỹ kỹ thuật. Nhưng thường thường càng lo đến những việc bên ngoài th́ càng giảm bớt việc bên trong. Càng ít lo những việc bên ngoài th́ việc ấy lại càng có căn bản (VD trang 266). V́ động lực phát sinh là do chính tinh thần.

Tại sao Công giáo ngày nay suy sụp mặc dầu có sự tận tâm khác thường, và mặc dầu người ta vẫn đều đều áp dụng những phương pháp bề ngoài thích nghi với đời sống mới? Tại sao sau cái đà mạnh mẽ, sau những thành công bề ngoài ta vẫn thấy ngựa theo đường cũ, và làn sóng ngoại giáo đă một thời bị chận đứng nay lại từ từ dâng lên? Tại sao người ta đă đổi phương pháp, cải tiến kỹ thuật mà rồi ra mọi sự lại vẫn như trước? Phải chăng là v́, như Cha Chevrier nói, những phương thế bề ngoài chẳng đi đến đâu? (VD trang 188). Có nhiều người dùng những phương thế bề ngoài để lôi cuốn, để hoán cải tâm hồn, rồi họ mỏi mắt trông chờ kết quả. Nhưng họ đă lầm và đi ngược với Phúc âm chừng nào! (VD trang 189).

Thế th́ phải miệt thị những phương pháp mới như Hướng Đạo, Thanh Lao Công, Hùng Tâm Dũng Chí sao? Không phải thế, v́ trong những phương pháp này chỉ cần phải phân biệt rơ ràng tinh thần với kỹ thuật. Dưới h́nh thức này hay h́nh thức khác, những phương pháp đều quy về Chúa Kitô nguồn sinh lực độc nhất. C̣n về kỹ thuật th́ chính là việc của giáo dân. Tự nó, nó không phát sinh hiệu lực, và dù có ích hay chăng nữa, ích lợi ấy cũng chỉ có thể có do Chúa Kitô mà thôi. Muốn cho những phương pháp này thành công thực cần nhất là vị linh mục, thứ ngă Chúa Kitô, phải chú trọng trước hết đến đời sống siêu nhiên, v́ ngài chỉ có thể thông sinh lực nhiều ít tùy số lượng ngài có. Đáng khiển trách là công việc theo lẽ phải do giáo dân làm th́ linh mục lại vơ lấy mà làm một ḿnh.

Các sinh viên của cha ở đại chủng viện hỏi rằng: «Có thể dự những phiên nhóm của hội đoàn không?» Cha trả lời: «Chúng ta có thể từ chối một điều giúp làm sáng danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn sao?»… Nhưng cha cũng thêm: «Tuy nhiên các con nên nhớ rằng: phương thế hay nhất là chính ta phải nên thánh, phải đầy tinh thần Chúa đă. Nếu Chúa Thánh Linh ở với ta, ta sẽ thành công trong mọi công cuộc» (Lettres trang 101-102).

Vậy đối với kỹ thuật, không nên say mê, nhưng nên có thiện cảm với tâm niệm luôn luôn rằng cái cốt yếu không phải ở đó.

....>Quan niệm Tông đồ Linh Mục theo cha Chevrier -Phần 2

Về Đầu Trang 

Về trang GHHV




© KhangNguyen | Lớp Ngôn Sứ | GHHV