Phỏng dịch “Apostolat Sacerdotal” Của Đức Giám mục A. Ancel
Imprimatur
Xuân Lộc, ngày 14 -09-1971
+ Giuse Lê Văn Ấn
Giám mục
|
Phần 2
2. Cầu nguyện và đau khổ
Chức vụ linh mục là chức vụ thiêng liêng. Nhưng đâu là đặc tính của chức vụ này? Trước hết phải chắc chắn được Chúa phù trợ. Không được Chúa giúp ta không thể làm được ǵ. Đứng trước một linh hồn cần phải chinh phục, trước một trở lực cần phải thắng vượt, linh mục không nên tự hỏi:
«Tôi sẽ làm ǵ? Tôi sẽ nói ǵ? Dùng phương pháp nào?» Nhưng ngài nên thưa với Chúa: «Lạy Chúa, con trông cậy Chúa v́ không ǵ mà Chúa không làm được».
Nhưng tin cậy mà thôi không đủ để Chúa can thiệp, c̣n phải cầu nguyện, phải dâng lễ hy sinh. Cha Chevrier nhấn mạnh cách riêng về hai điểm này. Nhưng không phải cha đă lập ra định luật hành động phải tùy thuộc sự cầu nguyện. Sở dĩ có định luật ấy là v́ chính Chúa Giêsu đă làm trước. Cha nh́n vào Chúa Giêsu và cha thấy Chúa Giêsu đă bắt đầu chức vụ của Người bằng thời gian tĩnh tâm suốt 40 ngày, và trong những năm ra truyền giáo đêm nào Người cũng cầu nguyện. Cha c̣n nhận thấy rằng Chúa Giêsu dù là tấm gương thánh thiện, dù có tính t́nh hiền ḥa, dù khoan dung đại lượng với mọi hạng người, dù nói hay giảng khéo, dù làm được những phép lạ hiển hách, kết cuộc Người đă đi đến một thất bại thảm thương sau ba năm giảng thuyết. Tại sao vậy? chính chúa Giêsu giải thích: «Nếu hạt giống gieo xuống đất không chết đi th́ nó chỉ là một hạt, nhưng nếu chết đi th́ nó lại sinh thêm nhiều hạt» (Gn 12,24).
Giáo huấn của cha Chevrier sẽ là phản ảnh trung thành về những điều cha đă nghe đă thấy khi đọc Phúc âm. Cha viết:
«Thiên Chúa đă đặt linh mục ở trần gian là để ngài làm nhiệm vụ cầu nguyện.
Cầu Chúa cho dân đó là nhiệm vụ cao cả của linh mục. Khi người ta giao chiến th́ linh mục, chẳng khác nào Maisen xưa ở trên núi, ngài cầu nguyện cho họ thắng trận». (VD. Trang 344). Cha luôn luôn nói đến sự cần thiết của đau khổ:
«Phải nhớ kỹ rằng chính nỗi đau thương của Chúa đă hoán cải thế giới, rằng đau khổ là phương tiện cải tiến, rằng phải mua ân sủng bằng đau khổ và ai không chịu khó th́ không thu được ǵ hết». (VD trang 479, 309-315, 469-485, 546-550).
3. Hoà ḿnh vào đại chúng
Tuy nhiên cầu nguyện và hy sinh chưa đủ, mặc dầu nó chiếm địa vị trọng yếu và không thể thay thế. Cái điều cần thiết là nh́n và nghe Chúa Giêsu. Cha đă nh́n đă nghe thấy ǵ? Cha thấy Ngôi Hai Thiên Chúa đă nhập thể, Người hạ ḿnh ngang hàng với người cùng đinh trong xă hội, Người ḥa ḿnh vào giữa ḷng nhân loại, nơi Người, ta thấy chỉ c̣n hiển hiện có nhân tính nữa thôi. (Phil 3,7).
Không bao giờ cha thừa nhận rằng giữa linh mục và quần chúng cần thiết phải có những giáo hữu trung gian. Xưa Chúa Giêsu đă tiếp xúc thẳng với bọn buôn son bán phấn và những tội nhân, cha đă hiểu rơ rằng cha cũng phải hạ ḿnh xuống mà sống cuộc đời của những người mà cha muốn hoán cải. Trong túp lều của hội Prado nơi không c̣n ǵ là trưởng giả nữa, cha sống dễ dăi với những người thợ, và họ cũng thành thật với cha.
Người ta biết rằng cha là «bạn của người nghèo» (Vie Nouvelle trang 246). Nhưng nơi cha không có ǵ là tầm thường v́ Chúa Giêsu không tầm thường. Cha có «dáng oai phong». Cha
không hề nói lóng bao giờ bởi v́ cha rất kính trọng những người thợ, mà nói lóng như thế là không lịch sự. Cha nhă nhặn và thân mật tiễn đưa những người nghèo khó đến thăm cha cũng như tiễn đưa những vị ân nhân đă giúp đỡ công cuộc của cha. (EV. Trang 209). Cha không uống rượu với họ dù họ thành thực và khẩn khoản mời. Cha không nhiễm phải cái óc giai cấp v́ linh mục là linh mục của mọi người. Nhưng cha sống như họ, cùng chịu cảnh bấp bênh về ngày mai như họ, cha cảm thông nỗi khổ cũng như niềm vui của họ. Thế nên cha được những người nghèo và dân thợ quen biết và yêu mến kính chuộng. Họ sung sướng và hiên ngang trao đổi vài lời với cha ở ngoài phố, siết tay cha và có khi c̣n sung sướng mời cha một ly rượu – dĩ nhiên là không bao giờ cha nhận lấy ly rượu ấy – nhưng sự thành thực mời mọc này tỏ ra họ có cảm t́nh với cha dường nào (EV. Trang 207).
4. Làm nhẹ bớt đau thương
Cha Chevrier ở giữa quần chúng, sống như họ và cũng cảm thông và khoan dung với họ. Chúa Giêsu đă làm như thế. Ai nghĩ rằng quần chúng chỉ sống cho cái bụng của họ là lầm và sỉ nhục họ hết chỗ nói. Thường những tấm ḷng tốt lại hay nảy nở giữa đám thợ thuyền hơn là nơi những trưởng giả. Nhưng phải biết ḷng người. Muốn thế phải thực t́nh yêu họ.
Cha Chevrier đă nói về t́nh thông cảm như là nền tảng đức ái. «Những kẻ lănh đạm hay thờ ơ trước những đau thương của những người khác th́ không thể có đức ái» (VD trang 399). Trong cuốn «Véritable Disciple» có dành riêng một chương nói về việc học tập đức hiền hoà (VD, trang 345-354).
Nhưng tâm t́nh lại càng được bảo chứng bởi việc làm. Chúa Giêsu đă cảm thương dân chúng, đă chữa bệnh tật cho họ, đă cho họ ăn no nê. Cha Chevrier cũng làm như Chúa, nhưng cha dè dặt và kín đáo đến nỗi chỉ sau khi cha khuất đi ta mới biết được qua lời người thụ ân cha kể lại:
- Cha đă t́m việc cho chồng tôi, một chỗ cho con gái tôi. Không có cha chúng tôi đến chết đói. Cha đă trả tiền học nghề cho con trai tôi, cha thật là tử tế
(VN. Trang 563).
Quy tắc của cha là: «Ta hăy thi hành đức bác ái với mọi người xin ta… Đừng bao giờ chối từ giúp đỡ bất cứ ai, hăy tự coi ḿnh là đầy tớ mọi người v́ ḷng bác ái» (VD trang 312). Nên chú trọng đến tiếng «Bất cứ ai». Bác ái đạo Công giáo không phân biệt người tín hữu với người ngoại đạo. Làm việc bác ái mà không mong những kết quả tông đồ. Giúp đỡ v́ ḷng tốt chứ không phải để được một cái ǵ dù là để họ theo đạo. Cha chúng ta ở trên trời đă làm mưa xuống cho cả kẻ lành người dữ» (VD trang 394, Mt 5,45).
5. Đời sống của vị tông đồ chứng minh Chúa Giêsu
Cha Chevrier nh́n ngắm Chúa Giêsu và cha nhận thấy rằng: Chúa Giêsu đă thực hành tất cả những điều Người giảng dạy. Cha cũng sẽ làm như thế: Cha muốn dùng chính đời cha để chứng minh Chúa Giêsu.
Thi hành đức bác ái là chứng minh Chúa Giêsu, nhưng chưa đủ. Đúng thế, ngoài đạo Công giáo cũng có những sáng lạn về đức xả kỷ vô tư.
Vậy chúng ta phải làm phép lạ ư? Làm phép lạ chúng ta chưa có năng lực. Vả lại gương phúc âm c̣n đấy cho ta thấy rằng phép lạ cũng không đủ:
«dù Chúa đă làm nhiều phép lạ trước mắt họ mà họ vẫn không tin Người» (Gn 12,37). Đành rằng phép lạ có một giá trị hộ giáo không thể chối căi được, nhưng cũng đ̣i người chứng kiến phải có thiện chí. Các phép lạ cần thiết để đóng ấn vào sứ mạng Chúa Kitô và ta phải luôn luôn thuyết minh về phép lạ có thật và có giá trị. Nhưng ta phải làm cho thiên hạ đến nghe ta giảng và có thiện chí đón nhận điều ta giảng thuyết.
Cha Chevrier tŕnh bày một phương pháp đă đem lại thành công cho thánh Gioan Tẩy Giả trong việc thu hút quần chúng. Phương pháp đó thánh Phaolô đă dùng trong suốt đời tông đồ của ngài: đó là gương mẫu một đời sống thanh bần, hy sinh và tận tụy.
Đời sống đó sẽ thể hiện Lời Chúa nói trong Phúc âm: «Các con là ánh sáng thế gian». Vậy ta phải chiếu giăi trong thế gian ánh sáng của chúng ta tức là gương sáng và nhân đức của chúng ta. Ta phải thực hành những nhân đức xung khắc với tật xấu của đời. Đời càng hư đốn ta càng phải giọi vào mắt họ những tia sáng nhân đức và lôi cuốn họ bằng chính lời nói và nhất là bằng gương mẫu đời sống của ta. Đời càng đua đ̣i xa hoa, phù phiếm, ta càng phải yêu mến và thực hành đức khó nghèo. Đời càng ưa lối sống dễ dăi ươn hèn, ta càng phải chiếu giăi đức hy sinh thống hối. Bác ái – Tận tâm – Hy sinh. Đời cần phải thấy được việc làm của ta.
- Nếu các người không tin lời Ta nói th́ hăy tin việc Ta làm, Chúa Giêsu phán với những người Do thái.
Ước mong ta cũng có thể nói như thế và tỏ cho biết việc làm của ta để khiến họ tin và trở lại.
Hăy xem tôi nghèo khó chừng nào.
Hăy xem tôi đă bị đóng đinh vào thập giá.
Hăy xem tôi lặng thinh không kêu ca, không nói nửa lời để anh em ăn uống tôi cho no thỏa. (VD trang 99)
Như thế là cha Chevrier muốn t́m một cái ǵ thay thế cho phép lạ. Cái đó chính sự thánh thiện nơi một người đă biết trở nên khó nghèo, khổ hạnh và nên của ăn cho người đời. Sống thánh thiện được ở cái đời nhớp nhơ tội lỗi này mà không phải là phép lạ sao? Phép lạ đó, cha đă đ̣i buộc các con cái cha phải cố gắng thực hiện để có thể hoàn thành công tác đă ủy thác cho họ.
Phương pháp ấy có chung cho công cuộc tông đồ hay chỉ dành riêng cho một hội nào? Ta phải phân biệt: màu hoa thánh thiện có thể khác nhau nơi các linh mục, nhưng linh mục nào cũng phải chung một việc là bắt chước Chúa Kitô cả trong lẫn ngoài. Đức Piô XI đă long trọng ngự phán:
«Linh mục phải sống thế nào để có thể áp dụng vào ḿnh câu nói của thánh Phaolô: «Anh em hăy bắt chước tôi như tôi bắt chước Chúa Kitô». Phải sống như một Chúa Kitô thứ hai, Đấng đă soi sáng và c̣n soi sáng thế giới bằng ánh nhân đức của Người» (Ad catholici, Ed. Bonne Presse trang 18. Xem Giáo Luật đoạn 124).
Do đó nảy ra luật sống cho linh mục, luật sống mà cha Chevrier đă để lại trong cuốn «Véritablé Disciple»: «Linh mục không buộc phải khép ḿnh vào những quy tắc lịch sử của đời, nhưng ngài phải làm vinh danh Thiên Chúa trong thân xác nghĩa là phải biểu trưng Chúa cho đời, trong lời nói, trong việc làm, trong ánh mắt, nói chung, trong toàn thể con người của ta, v́ toàn thể con người của ta phải là hiện thân Chúa Kitô» (VD, trang 159).
6. Đừng gây trở ngại cho Phúc âm
Đời sống linh mục chứng minh Chúa Kitô, nhưng cũng có thể làm mất ít ra một phần hiệu lực nếu linh mục c̣n để một hai lối xử nào khiến cho người ta xa Chúa Kitô và ngăn cản họ trở lại. Không đủ, nếu chỉ cố tránh những lỗi lầm gây gương xấu – điều bó buộc phải tránh – một linh mục đích thực của Chúa Kitô, ngoài ra, c̣n phải tha thiết làm tiêu biến tất cả nhữn ǵ ngăn cản người ta trở lại. Đó là nguyên tắc của thánh Phaolô:
«Chúng tôi chịu đựng tất cả để khỏi gây trở ngại cho Chúa Kitô» (I Cor 9,12). Ngài cũng nói:
«Nếu ăn thịt mà nên dịp sa ngă cho anh em tôi th́ tôi sẽ không bao giờ ăn thịt để khỏi nên dịp cho họ sa ngă» (I Cr 8,13).
Cha Chevrier cũng có một mối bận tâm như thế. Sống giữa đám thợ, cha rất quen những vấn nạn của giới b́nh dân. Họ không tin linh mục giữ được đức trinh khiết. V́ thế cha muốn pḥng khách phải ghé kính; cha cũng không muốn cho nữ giới giúp việc ở xứ đường (VD trang 146). Họ không tin các linh mục sẵn ḷng hy sinh. V́ thế cha muốn ăn uống đạm bạc (VD. Trang 138-147). Cha cấm hút thuốc (VD. Trang 146). Họ không tin linh mục làm việc cách vô vị lợi. V́ thế cha muốn được bề trên cho phép từ chối ngoại bổng (VD 248-290). Cha biết rơ cha có quyền nhận, nhưng cha muốn được phép từ chối. Cha biết rằng linh mục mà hay yêu sách th́ hại lớn cho công việc tông đồ.
«Những yêu sách của linh mục trong thánh đường, trong chức vụ làm cho dân chúng chán ghét và đưa họ xa Chúa và Giáo hội. Nếu ngày nay người ta cũng đạo đức tốt lành như giáo hữu thời xưa th́ không có ǵ khó khăn, v́ giáo hữu lấy làm vui sướng được làm tṛn nhiệm vụ giúp đỡ linh mục và họ vui ḷng làm nhiệm vụ ấy khi linh mục đă chu toàn thánh vụ.
«Nhưng yêu sách nỗi ǵ với những người khô khan, với những người đă khinh dể linh mục, coi linh mục như một người hà tiện, một người ăn bám…? Yêu sách nỗi ǵ, với những người chỉ đến nhà thờ ba bốn lần vào dịp lễ cưới, rửa tội, an táng, và với những người, có khi vào đến nhà thờ th́ lại phải nghe chính linh mục thở ra những giọng kể ân kể nghĩa?…
«Làm thế chẳng qua là đẩy họ xa nhà thờ và thay v́ vui vẻ từ biệt linh mục mang theo thiện cảm th́ họ lại vừa đi khỏi vừa nguyền rủa và gọi ngài là «Linh mục tiền» (VD. Trang 290).
Nói cho đúng, lập luận của cha Chevrier không đưa đến chỗ phải triệt tiêu ngoại bổng, nhưng chỉ đưa đến chỗ cần phải triệt tiêu yêu sách. Triệt tiêu những yêu sách đó là quy tắc chung của Giáo hội. Nhưng giá thôi hẳn đi th́ thật là giản tiện.
Nói tóm lại, những linh mục muốn cho công cuộc tông đồ ḿnh rập khuôn với đời sống tông đồ của Chúa Kitô th́ phải luôn luôn lưu ư tránh hết sức những hành vi khiến người ta xa Chúa.
7. Giảng Lời Chúa
Bây giờ là lúc linh mục có thể gieo rắc lời Chúa. «Chúng tôi coi việc giảng dạy như là nhiệm vụ trọng đại nhất, nhiệm vụ căn bản của thiên chức chúng tôi» (VD. Trang 433). Cha c̣n nói: «Giảng là sứ mạng quan trọng nhất và vượt hết mọi sứ mạng, phải giảng rồi mới rửa tội, phải giảng rồi mới giải tội để hoán cải, soi sáng và giáo hóa. SỨ MẠNG CĂN BẢN, KHÔNG CÓ NÓ, TRÊN ĐỜI KHÔNG CÓ G̀ HẾT» (EV. Trang 426).
Làm ǵ th́ làm, nhưng cái cốt yếu của việc tông đồ không thể đổi khác được. Cái cốt yếu đó, thánh Phêrô đă vạch rơ:
«Chúng tôi sẽ hoàn toàn chú trọng đến việc cầu nguyện và nhiệm vụ giảng thuyết» (Act 6,4).
Có những linh mục suốt đời chỉ làm công việc cày bừa ruộng Chúa. Cái đó rất tốt. Nhưng nếu các ngài không gieo lấy th́ lấy ǵ mà gặt?
Có những vị khác lại đặc biệt chú trọng đến việc thực hành là lo cho con chiên chịu bí tích, dự thánh lễ. Nhưng nếu họ có đức tin th́ tự nhiên họ cũng thực hành những việc đó. Nếu không v́ đức tin mà làm th́ chỉ là gánh nặng, làm v́ ép t́nh. Mà đức tin sống v́ lời giảng.
Lại có những vị khác chỉ biết có tác động, coi tác động là tất cả công việc tông đồ. Đấy c̣n là một cái lầm, v́ tác động sở dĩ có là để chuẩn bị cho việc giảng dạy hoặc là để gieo tinh thần đức tin. Cái cốt yếu không ở tại tác động.
Sau hết, có những vị tưởng rằng làm việc tông đồ là hướng dẫn giáo hữu tự t́m chân lư phải tin căn cứ vào những nhu cầu đời sống và sách Phúc âm. Cái đó hay hơn những phương pháp trước. Nhưng nếu phương pháp này có ưu điểm là kích thích chú ư và chuẩn bị tinh thần th́ nó cũng không miễn cho linh mục khỏi dạy giáo lư cách trực tiếp. Có ai đă từng thấy thánh Phaolô chỉ chủ toạ một lớp học tập mà không thông truyền cho họ sự mầu nhiệm không? Hẳn là không. Không một phương pháp tông đồ nào đă được thừa nhận trong Giáo hội nếu phương pháp ấy không giữ lấy việc giảng dạy, dưới h́nh thức này hay h́nh thức khác như là nhiệm vụ căn bản.
Nhưng không nên lầm lẫn việc giảng dậy với bài giảng ngày Chúa nhật. Giảng là gieo Lời Chúa vào các linh hồn. Là linh mục, chúng ta phải giảng hàng ngày (VD. Trang 434), và chúng ta phải giảng trong bất cứ dịp thuận tiện nào, bất cứ nơi nào chúng ta thấy lời giảng có thể gây được chút ảnh hưởng (VD. Trang 435).
Lời Chúa quan trọng như vậy nên phải liệu cho mọi người có thể nghe biết. Cha trối lại cho con cái cha những lời này: «Nếu có thể chúng ta sẽ đi dạy giáo lư trong các thôn xóm để đưa về cho Chúa những người xa chúng ta. Như thế là bắt chước các tông đồ đă giảng «công khai và từng nhà» (VD. Trang 508).
Qua mấy trang trên đây chúng ta đă nắm được cái cốt yếu của việc tông đồ: cầu nguyện và hy sinh để kéo ơn Chúa xuống; ḥa ḿnh vào đại chúng và làm nhẹ bớt nỗi đau thương của họ; lấy đời sống biểu trưng Chúa Kitô; cất những trở ngại làm tắc nghẽn Lời Chúa. Sau hết trên mảnh đất đă dọn sẵn và ph́ nhiêu v́ ân sủng này ta hăy gieo Lời Chúa. Những ǵ khác chỉ là tùy ṭng.
Thấy giáo dân sa sút, nhiều vị linh mục nhiệt tâm muốn nâng cao tinh thần họ, nên hăm hở áp dụng nhiều phương pháp tông đồ hoặc do sáng kiến của các ngài, hoặc do sáng kiến của những linh mục khác. Điều đó rất tốt. Nhưng ta cũng nên ngừng lại một đôi khi để nhận định xem c̣n đứng vững trong điều cốt yếu của việc tông đồ hay đă đi ra ngoài lề.
Nếu ta quá chú trọng đến việc xây cất những thánh đường lộng lẫy nguy nga ta nên lưu ư lời cha Chevrier:
«Hăy đặt một linh mục thánh trong một nhà thờ gỗ bốn bề lộng gió, ngài sẽ lôi cuốn và hoán cải nhiều người hơn là linh mục tầm thường trong một nhà thờ bằng vàng. Ngày nay người ta chú trọng đến việc làm nhà thờ cho đẹp hơn là việc làm cho giáo hữu nên thánh. Chỉ v́ làm nhà thờ đẹp th́ dễ hơn làm cho giáo hữu trở nên thánh» (VD. Trang 254).
Vả lại chính các vị sáng lập các phong trào đạo đức, các hội đoàn hưng giáo đều nhấn mạnh vào sự cần thiết phải lấy đời sống thấm nhuần tinh thần Phúc âm làm hồn cho mọi kỹ thuật tông đồ. Vậy mà nhiều khi trong thực hành, người ta đă hy sinh rất nhiều cho kỹ thuật mà quên lăng cái cốt yếu, khiến cho giáo hữu nhiều khi phải phàn nàn v́ không t́m được nơi các linh mục sức sống cần thiết cho họ. Cho nên, là linh mục, chúng ta hăy thật là chuyên viên về phương diện siêu nhiêu.
Để kết luận, chúng tôi xin dùng chính lời cha Chevrier: «Vậy ta đừng quá chú trọng vào những việc bên ngoài. Hăy lợi dụng nó nhưng đừng mặc cho nó một tính cách quan trọng. Đừng lấy tùy làm chính, lấy gạch đá làm nhân đức, lấy những đồ trang hoàng (kỹ thuật) làm hơn sự thánh thiện» (VD. Trang 265).
Martha, Martha, sollicita es est turbaris erga plurima!
Thư Viện Đồng Công
Đánh máy lại, Phục Sinh 2009
Trao tặng các Linh mục Việt Nam…
<...Quan niệm Tông đồ Linh Mục theo cha Chevrier -Phần 1
Về Đầu Trang
Về trang GHHV
|